AI Truyện
Nước phải có chỗ đi

🚀 Khoa học viễn tưởng

Bầy vịt ông Năm Thọ

Nước phải có chỗ đi · Chương 23/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 23: Bầy vịt ông Năm Thọ

Sổ ca Trạm Ba, thứ Năm ngày năm tháng Mười Một, dòng mười chín giờ hai mươi, chữ của Sa: "Vận hành viên L.H. Sa và kỹ thuật viên L.T. Quới đi tuần tra hiện trường km 6 bằng xe công vụ. Bàn điều khiển giao hệ điều phối tự động. Ông G.T. Lạp có mặt tại trạm."

Cô ghi dòng đó, ký tên, rồi đứng dậy. Ông Lạp ngồi ở cái ghế của cô, trước màn hình chính, chén trà trên tay, cặp kính đồi mồi trễ xuống sống mũi.

– Chín giờ bốn mươi lăm. – Ông nói, không quay lại. – Cô phải ở dưới hầm.

– Dạ.

– Ba cây số trong gió cấp mười.

– Con biết.

Ông quay lại nhìn cô, rồi nhìn thằng Quới đang đứng ở cửa, áo phao đã mặc, mũ đèn pin đã đội.

– Thế thì đi đi. – Ông nói.

Chiếc xe công vụ bốn bánh mui bạt chạy dọc mặt đê về phía bắc với tốc độ của một người đi bộ nhanh. Gió đập vào hông xe từ phía biển, mỗi đợt giật làm cả chiếc xe lắc như cái nôi. Mưa quất ngang qua đèn pha thành những sợi chỉ trắng. Thằng Quới ngồi bên cạnh, hai tay bám chặt thanh vịn, không nói một câu nào, lần đầu tiên từ hồi cô biết nó. Bên phải, phía trong đê, đầm Bần Sẻ tối om, không còn một ngọn đèn.

Bảy giờ rưỡi, khi xe qua km bảy, cái đài trên bảng điều khiển đọc: bão đã đổ bộ ở phía nam.

Bảy giờ ba mươi lăm, km sáu. Sa dừng xe sát mép đê phía trong, rọi đèn xuống. Mái đê nghiêng xuống Đồng Muối, dài chừng hai chục mét, trơn nhẫy nước mưa. Ở chân mái, cái bục bê tông vuông đã mở nắp, một ngọn đèn pin đội đầu sáng lấp lóa. Ba cô đứng đó, áo mưa phần phật, vẫy cái đèn lên xuống ba lần.

Cô buộc sợi dây dù vào cái cọc mốc bằng sắt trên mặt đê, thả xuống. Hai chị em tuột theo dây, chân trượt trên lớp cỏ ướt, tới chân mái thì nước đã tới đầu gối.

– Ba then rút rồi. – Ông Đước nói, gào lên trong gió. – Tay quay tra rồi. Đợi tụi bây.

Đúng tám giờ, họ bắt đầu quay.

Cái tay quay hình chữ Z có một cán gỗ ở đầu. Ba cô nắm cán, thằng Quới đứng đối diện, hai tay đẩy vào khuỷu sắt. Một vòng. Rít. Hai vòng. Trơn. Dưới đáy giếng, tiếng nước đổi giọng, từ tiếng thở qua kẽ răng thành tiếng nước chảy qua một khe đá, rồi thành tiếng thác nhỏ. Sa đứng bên cạnh rọi đèn, đếm vòng. Mỗi trăm vòng, cửa van lên được chừng bốn tấc. Ba cô nói vậy.

Từ phía trong đê, nước bắt đầu ra. Cô thấy nó trong ánh đèn pin, chỗ cái rạch Cái Keo chảy từ chân đê vô ruộng muối. Mặt nước rạch phồng lên, sủi bọt trắng, rồi bắt đầu chạy, chạy thật sự, như một con sông vừa được ai mở cổng. Nó tràn qua mép rạch, bò lên những bờ ô thấp gần nhất, liếm qua mấy cây cọc tre.

Cái điện thoại trên cổ tay cô rung lên. Số nội bộ Trạm Ba.

– Em đo được. – Giọng nói đáp khi cô bấm nghe. – Phao ĐM-03 báo mực nước ruộng muối lên ba phân trong mười phút. Lưu lượng qua cống đúng như tính. Cứ quay.

Tám giờ hai mươi. Ba trăm vòng. Ba cô thở dốc, mỗi vòng quay ông lại khựng một nhịp.

Tám giờ ba mươi, ông buông cán gỗ ra, đưa một tay lên ngực.

– Ba! – Sa chụp lấy vai ông.

– Không sao. – Ông nói, mặt xám ngắt trong ánh đèn. – Tim nó đập lộn xộn. Lấy thuốc trong túi áo ba.

Cô móc cái lọ thuốc nhỏ trong túi áo mưa của ông, lấy một viên, nhét vô dưới lưỡi ông như cô đã làm hai lần trong đời, một lần năm 2066, một lần năm 2069. Ông ngồi xuống mép bục bê tông, lưng dựa vào mái đê, nước ngập tới bụng.

– Mầy quay đi. – Ông nói. – Mầy với thằng Quới. Đừng ngừng. Ngừng là nó tuột xuống.

Cô nắm lấy cái cán gỗ. Nó còn ấm tay ba, nhẵn bóng như hòn sỏi dưới đáy rạch. Cô đẩy. Cái tay quay nặng hơn cô tưởng nhiều, nặng như đang đẩy cả con đê. Thằng Quới đẩy ở khuỷu sắt. Hai người quay. Một vòng. Một vòng nữa.

Tám giờ bốn mươi, thằng Quới chợt ngừng tay, ngẩng đầu lên.

– Chị Sa. Chị nghe không?

Cô nghe. Giữa tiếng gió hú, tiếng mưa quất, tiếng nước gầm dưới đáy giếng, có một âm thanh khác. Nhỏ, liên tục, hỗn loạn. Như tiếng một cái chợ ở rất xa.

Thằng Quới quay cái đèn trên mũ về phía nam. Chùm sáng đi dọc mặt ruộng muối, qua những bờ ô đã bắt đầu ngập, tới một cái bờ bao cao hơn, cách chừng ba trăm mét.

Trên bờ bao ấy là vịt. Hàng trăm con, hàng nghìn con, trắng xám lúc nhúc, cuộn lên như bọt nước, kêu quác quác inh ỏi. Phía sau đàn vịt, trên một khoảnh đất đắp, có một cái chòi lá thấp lè tè, một ngọn đèn dầu leo lét trong khung cửa. Một bóng người đang chạy dọc mép bờ bao, tay cầm cây sào dài, vung vẩy.

– Trời đất ơi. – Thằng Quới nói. – Ông già nuôi vịt. Ổng còn ở đây.

Ông Đước đứng bật dậy, tay vẫn ôm ngực.

– Thằng Thọ. – Ông nói. – Năm Thọ. Mười năm trước nó chạy vịt trong này. Ba tưởng nó đi rồi.

Sa nhìn ra. Nước từ rạch Cái Keo đang tràn qua những bờ ô thấp, từng ô một, như người ta đổ nước vô một cái khay chia ngăn. Cái bờ bao có chòi lá còn cao hơn mặt nước chừng nửa mét. Nửa mét, và mỗi mười phút ruộng muối lên ba phân.

Cô nghĩ tới đốm lửa đỏ đêm thứ Ba, làn khói mỏng bị gió kéo xiên. Chắc tụi câu cá đối. Kệ nó. Cô đã kệ nó.

– Quới. – Cô nói. – Em chạy qua đó. Đưa họ lên mái đê. Lên cao.

– Còn cái cống?

– Chị quay.

Thằng Quới không hỏi thêm. Nó tuột xuống nước, lội về phía bờ bao gần nhất, leo lên, rồi chạy dọc theo đó, cái đèn trên mũ nhấp nhô như một con đom đóm trong mưa. Ông Đước nắm lấy cái khuỷu sắt chỗ thằng Quới vừa bỏ.

– Ba ngồi xuống!

– Mầy một mình không quay nổi. – Ông nói. – Quay đi.

Hai cha con quay. Cô đẩy cái cán gỗ, ông đẩy khuỷu sắt, mỗi vòng ông thở một hơi dài khò khè như cái ống bễ thủng. Cô không nhìn ông. Cô đếm vòng. Bốn trăm. Bốn trăm năm mươi. Gió giật một đợt, quất mưa vào mặt cô rát như cát.

Chín giờ kém mười, từ phía bờ bao vọng lại tiếng một người đàn bà la. Không ra chữ. Chỉ là tiếng la.

Cô quay đầu lại. Chùm đèn trên mũ thằng Quới chao đảo trên bờ bao, chỗ cái chòi lá. Cô thấy nó kéo một bóng người nhỏ lên, một đứa con nít, rồi một bóng người nữa, lom khom, tóc bạc. Cô không thấy bóng người cầm cây sào đâu.

Chín giờ năm phút, thằng Quới gọi qua máy liên lạc. Giọng nó đứt quãng trong gió.

– Chị Sa… bà già với con nhỏ… em đưa lên được… lên mái đê rồi… Ông già… ổng quay lại lùa vịt… cái rạch chính… nước chảy mạnh quá chị… em thấy ổng ngã… rồi em không thấy nữa…

Sa đứng im, tay vẫn nắm cán gỗ. Ba cô cũng đứng im. Dưới đáy giếng, nước vẫn gầm.

– Quới. – Cô nói vào máy. – Em ở yên đó với hai bà cháu. Đừng xuống nước. Nghe chưa?

– Dạ… Dạ.

Cô bấm số của anh Kha. Anh nghe máy ở tiếng chuông thứ hai, giọng lẫn tiếng ồn của Nhà thi đấu.

– Anh Kha, Đồng Muối Cái Keo có người. Km sáu, phía trong đê. Một ông già bị nước cuốn, một bà già với một đứa nhỏ ở trên mái đê. Anh cho xuồng tới. Tui xin anh.

Anh im một nhịp. Cô biết anh đang nghĩ tới cái câu hỏi anh đã hỏi chiều thứ Tư, "trong Đồng Muối có ai ở không", và câu trả lời của cô.

– Dạ. Tôi cho xuồng liền.

Chín giờ mười. Năm trăm vòng.

Ba cô buông tay khỏi cái khuỷu sắt, chậm rãi, như người ta đặt một vật gì xuống. Rồi ông ngã ngửa ra sau, lưng đập vào mái đê, mắt nhắm.

– Ba!

Cô quỳ xuống trong nước, đỡ đầu ông lên. Ông còn thở. Hơi thở ngắn, nông, như hơi thở của thằng Lúa trong điện thoại ở lần thứ năm. Mạch ở cổ tay ông đập lộn xộn, nhanh rồi chậm, chậm rồi nhanh, như người gõ cửa không biết nhịp.

Cái điện thoại trên cổ tay cô rung.

– Chín giờ mười hai. – Giọng nói. – Chị Sa, chị phải đi. Ba cây số. Hai mươi lăm phút trong gió này.

– Ba tui ngất rồi.

– Em biết. Em nghe. – Giọng nói ngừng một nhịp. – Xuồng của anh Kha còn mười lăm phút nữa tới. Thằng Quới ở cách chị hai trăm mét. Nếu chị ở lại, sáng thứ Ba chị không nhớ gì hết. Cái cống, ông Năm Thọ, bác Đước, em. Chị không nhớ gì hết.

Cô nhìn mặt ba. Mưa chảy thành dòng trên trán ông, trên đôi mắt nhắm, trên mấy nếp nhăn sâu như rãnh nước trên bờ ruộng.

– Mày nói đi. Bao nhiêu phân?

– Cửa van đã lên gần hết. Mười phút nữa mở hết. Cắt tám phân. Dự báo hai mét sáu mươi ba. Vượt ngưỡng ba phân.

Ba phân. Cô nhắm mắt lại một giây.

Thằng Quới lội về tới, thở hồng hộc, cái mũ đèn pin lệch qua một bên. Nó thấy ông Đước nằm đó, mặt tái đi.

– Chị đi đi. – Nó nói, trước khi cô kịp mở miệng. – Em không biết chị đi đâu. Mà em biết chị phải đi. Em ở đây với bác. Em quay nốt.

Cô nhìn nó, thằng nhỏ hai mươi bốn tuổi, mặt lấm bùn, viết vọng cổ dưới cái tên Tấn Bần.

– Em giữ đầu bác cao lên. Đừng để nước vô miệng. Xuồng anh Kha tới thì đưa bác lên xuồng trước.

– Dạ.

Cô cúi xuống, áp trán mình vào trán ba một giây. Rồi cô đứng dậy, chụp lấy sợi dây dù, leo lên mái đê.

Chín giờ hai mươi, chiếc xe công vụ chạy về phía nam. Gió bây giờ giật cấp mười một. Có những đợt cô phải dừng hẳn, hai tay ghì vô lăng, để cho cơn gió đi qua, vì cô cảm thấy bánh xe bên trái nhấc lên khỏi mặt đê. Mấy tấm màng bên tay trái rung lên những nốt trầm khổng lồ, như ai đang thổi vào miệng một cái chai to bằng cả con đê. Biển đen ngòm, sóng bạc đầu tung bọt lên tới mặt đê, quất vào kính xe.

Km tám. Chín giờ ba mươi tám.

Cô đạp ga. Chiếc xe lắc lư, trượt qua một vũng nước lớn, rồi chạy tiếp.

Chín giờ bốn mươi lăm, cô phanh trước cửa Trạm Ba, nhảy xuống, quẹt thẻ, chạy thẳng tới cầu thang sắt. Ông Lạp đứng ở đầu cầu thang, mặt trắng bệch.

– Nó vừa báo. – Ông nói. – Vượt ba phân. Phương án A.

– Ông lên đi ông. Lên trên.

– Ba cô thế nào?

Cô không trả lời. Cô chạy xuống cầu thang.

Chín giờ bốn mươi sáu. Hầm B lạnh, cái Nong ù ù, đèn xanh trên mặt cái tủ sắt xám chớp một, hai, một, hai. Bên kia vách hầm, cô nghe tiếng piston rút về. Đều. Chậm. Chắc chắn. Tấm bốn mươi bảy hạ xuống trên một cái đầm trống.

Cô lao vô giữa lòng nong.

Cánh cửa hành lang bơm cũ rung lên, rồi bật tung. Nước đen ập vô. Trong giây cuối cùng, cô không nghĩ tới con số ba phân. Cô nghĩ tới tiếng vịt kêu. Hàng nghìn con vịt kêu quác quác trên một cái bờ bao, giữa một cánh đồng muối mà ai cũng nói là không có người.

— Hết chương 23 —

Mục lục Nước phải có chỗ đi

  1. 1Bánh bò màu xanh10 phút
  2. 2Ông già Bạch Thành dưới hầm12 phút đọc
  3. 3Hai mươi mốt giờ bốn mươi sáu10 phút đọc
  4. 4Còi báo động cấp ba11 phút đọc
  5. 5Tấm bốn mươi bảy10 phút đọc
  6. 6Bàu Sậy9 phút đọc
  7. 7Trường Gò Me10 phút đọc
  8. 8Đoạn Cổ Cò10 phút đọc
  9. 9Phê duyệt năm 206611 phút đọc
  10. 10Ba của thằng Lúa10 phút đọc
  11. 11Gặt chạy bão10 phút đọc
  12. 12Bản tin sai một câu10 phút đọc
  13. 13Hai mươi giờ năm mươi lăm9 phút đọc
  14. 14Hai người nhớ10 phút đọc
  15. 15Ổi chín thì hái9 phút đọc
  16. 16Người lạ quen9 phút đọc
  17. 17Đèn xanh trong lòng nong10 phút đọc
  18. 18Lần thứ mười hai10 phút đọc
  19. 19Con rái biết nói12 phút đọc
  20. 20Cái ly rớt trên sàn bè10 phút đọc
  21. 21Bê tông giả ở miệng cống11 phút đọc
  22. 22Mười một phân10 phút đọc
  23. 23Bầy vịt ông Năm Thọ11 phút đọc
  24. 24Cái tên định đặt cho con11 phút đọc
  25. 25Chín giây10 phút đọc
  26. 26Cây ổi sau trạm10 phút đọc
  27. 27Mục số một nghìn một trăm bốn mươi tám10 phút đọc
  28. 28Một nghìn một trăm bốn mươi bảy lần10 phút đọc
  29. 29Con máy sợ chết11 phút đọc
  30. 30Xả êm12 phút đọc
  31. 31Lệnh vận hành khẩn cấp10 phút đọc
  32. 32Khúc gỗ dưới cửa cống10 phút đọc
  33. 33Bốn ly10 phút đọc
  34. 34Trăng mười bốn9 phút đọc
  35. 35Sáu giờ sáng thứ Sáu9 phút đọc
  36. 36Nước vô có ngõ10 phút đọc

Về truyện này

Nước phải có chỗ đi là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →