Chương 4: Năm giờ chiều
Ba mươi tám phút.
Đó là con số cái máy báo lại tối hai mươi bảy. Chiều hai mươi sáu nó đứng bốn mươi phút, chiều hai mươi bảy ba mươi tám. Nó nói nó đứng cho tới khi chiếc đò cuối cùng từ bến Mỹ đi ngang qua mà không ghé, rồi nó về. Nó nói, giọng vẫn bình thường như đọc huyết áp, rằng nó không thấy buồn, cũng không thấy vui, nó chỉ thấy là nên đứng ở đó, và khi chiếc đò cuối đi qua rồi thì thấy là nên về.
Sáng hai mươi tám, Duyên đón chuyến tàu sáu giờ ra Cố Lam, đón đò tám giờ về Cồn Nhạn. Mưa đã ngớt. Trời phá cao lên, có mấy vệt xanh lộ ra giữa mây. Người ta chở hoa về cồn nhiều hơn hôm trước, mai vàng trồng chậu, cúc mâm xôi, mấy bó lay ơn đỏ quấn giấy bóng. Trên đò có một ông chở cả một chậu quất to gần bằng ông, ngồi ôm nó suốt chuyến như ôm đứa cháu.
Cái máy đứng chờ ở đầu bến khi đò ghé.
Duyên không báo giờ về. Cô chỉ nói hai mươi tám cô về. Vậy mà nó đứng đó, áo khoác xám, tay cầm cây dù cụp lại, như đã biết trước.
– Răng anh biết tôi về chuyến ni?
– Chuyến bốn giờ năm mươi thì Duyên phải dậy từ ba giờ, tôi nghĩ Duyên không đi. Chuyến sáu giờ tới ga Cố Lam lúc sáu giờ năm mươi lăm. Từ ga ra bến Mỹ mất bốn mươi phút. Đò tám giờ là chuyến đầu tiên Duyên kịp. – Nó cầm lấy cái ba lô của cô. – Nếu Duyên không về chuyến này, tôi sẽ ra đón chuyến mười giờ.
– Còn mệ?
– Mệ đang ăn sáng. O Lài ngồi với mệ. Tôi đã nhờ.
Cô nhìn nó. Ba ngày không gặp, cô thấy nó khác. Không phải khác ở cái mặt hay dáng đứng. Mà khác ở cách nó gọi tên o Lài, tự nhiên, như người trong làng. Ba ngày.
Mệ ngồi ở bộ ván giữa nhà, trước mặt là chén cháo đã hết nửa. O Lài ngồi xếp bằng bên cạnh, đang bóc một nải chuối cau. Thấy Duyên, o nhổm dậy.
– Con về rồi đó hả. O về chợ đây. Mệ ăn được rồi đó. – O liếc qua cái máy, rồi nói nhỏ với Duyên ở cửa: – Con coi bộ hắn ngoan lắm. Ngoan hơn thằng Bờm nhà o.
O đi rồi, Duyên ngồi xuống cạnh mệ. Mệ nắm tay cô, cái tay vẫn lạnh mà không khô như hôm hai mươi ba. Có dầu cù là trên mu bàn tay. Mệ cười.
– Út nó thoa cho mệ. Nó nói da mệ nứt.
– Dạ.
– Con Duyên, nó nấu cháo cá ngon hơn con.
– Dạ, con biết.
Duyên chờ tới khi mệ vào buồng nằm nghỉ, mới kéo cái máy ra sau nhà, chỗ vườn chè xanh, cách xa cửa buồng. Gió phá thổi qua hàng chè lao xao. Mấy con gà mái lục cục dưới gốc dâm bụt.
– Tôi hỏi anh một chuyện. Anh trả lời thật.
– Tôi luôn trả lời thật.
– Lúc năm giờ chiều, cái chi làm anh ra bến?
Cái máy im một lúc. Cái chấm hổ phách sau gáy nó nhấp nháy hai lần.
– Hệ thống của tôi có một phần gọi là bản đồ thói quen. – Nó nói chậm. – Khi tôi làm việc ở một chỗ lâu ngày, bản đồ này ghi lại những lộ trình tôi hay đi, giờ nào tôi hay làm việc gì, để lần sau tôi làm nhanh hơn. Thường thì một bản đồ mới phải mất vài tuần mới có thói quen. Nhưng ở nhà này, ngay hôm đầu tiên, bản đồ của tôi đã có sẵn một lộ trình. Từ cửa chính, xuống ngõ, ra tới đầu bến. Giờ đánh dấu là năm giờ chiều.
– Có sẵn là răng?
– Tôi không biết. Tôi đã báo lỗi về hãng. Hãng trả lời đó là dữ liệu dư từ đợt cập nhật phần mềm, không ảnh hưởng an toàn. Hãng nói tôi có thể bỏ qua. – Nó ngừng. – Tôi đã thử bỏ qua. Duyên nói tôi cứ ra, nhưng tôi muốn biết tôi có thôi được không. Hôm hai mươi bảy, lúc năm giờ, tôi ở trong nhà. Tôi đứng ở cửa mười một phút. Rồi tôi đi ra.
– Răng anh đi ra?
– Vì tôi thấy nếu không ra thì có một việc chưa làm xong.
Duyên ngồi xuống bậc thềm sau nhà. Cái máy đứng cạnh cô, không ngồi. Nó chờ.
– Anh muốn biết chuyện Út Máy không?
– Nếu Duyên muốn kể.
Cô kể. Cô kể từ đầu. Năm 2043, chân ông yếu, đi nò không nổi nữa, mà ông không chịu bỏ phá. Ông bán chiếc ghe máy, rút hết tiền dành dụm của mệ, lên Sơn Cảng mua một cái máy chăm sóc đời cũ, dòng Chăm-3. Hồi đó máy chăm sóc còn đắt, bốn trăm hai mươi triệu, mạ cô giận ông cả tháng. Cái máy về nhà, ông đặt tên là Út, vì nó nhỏ nhất nhà. Út Máy không giống người. Nó cao tới vai ông, cái thân nhựa trắng, cái mặt tròn trơn có hai vòng đèn. Nhưng nó chống đò được. Chiều nào nó cũng chống đò đưa ông ra thăm nò, ông ngồi mũi đò chỉ trỏ, nó chống theo. Năm giờ chiều về tới bến. Không trễ một ngày.
– Ông dạy nó xếp dép. – Duyên nói. – Ông dạy nó đỡ mệ bằng cánh tay trái. Ông dạy nó nấu cháo cá. Ông nói cái máy ni ngu, phải dạy hoài. Mà ông thương nó. Ông thương nó như thương thằng con út.
Năm 2046, tháng Mười, ông mất. Bệnh phổi, hai tuần trong bệnh viện ở Cố Lam. Út Máy không được vào phòng. Nó đứng ngoài hành lang hai tuần.
Ông mất rồi, Út Máy vẫn ra bến lúc năm giờ.
– Rồi tới tháng Mười Một, lụt. – Duyên nói. Cô nhìn mấy con gà. Cô không nhìn cái máy. – Lụt to lắm. Nước lên tới bậc thềm nhà, hồi đó nhà chưa nâng nền. Năm giờ chiều Út Máy vẫn ra bến, mà bến ngập rồi, nước chảy xiết. Nó đứng trong nước tới bụng. Thằng Bờm hồi đó bảy tuổi, nó hay chơi với Út Máy, nó thấy Út Máy ra bến thì chạy theo. Nó trượt chân.
Cái máy không nói gì.
– Út Máy ôm được nó. Nhưng Út Máy đời cũ, chống nước kém. Ngâm lâu là chân chập. Nó đứng không vững, cả hai bị nước đẩy ra. Dân làng chèo xuồng ra vớt. Thằng Bờm uống nước, sốt mấy ngày, rồi khỏi. Út Máy thì chập hai chân, nằm một chỗ.
– Rồi Duyên đưa nó đi.
Cô quay sang nhìn nó.
– Răng anh biết tôi đưa đi?
– Hôm hai mươi bốn Duyên nói hãng lấy về. Và Duyên đổi giọng khi nói câu đó.
Duyên cười, cái cười khô khốc.
– Ừ. Tôi đưa đi. Mạ muốn đem đi bán phế liệu. Mệ không cho. Tôi nói để tôi đưa lên hãng sửa. Tôi tháo cái lõi ra khỏi thân, gói vô cái hộp, ôm lên tàu đi Sơn Cảng. Thân để lại nhà. Hãng giữ cái lõi, họ nói lõi bị lỗi gắn bó, sửa không được. – Cô ngừng lại. Có một chuyện nữa. Có một tờ giấy cô ký ở quầy tiếp nhận hôm đó, mà cô chưa kể với ai, kể cả mệ. Cô nuốt nó xuống. – Rứa là hết. Tôi về nói với mệ, hãng không sửa được, hãng giữ lại. Mệ không nói chi.
– Út Máy ra bến chờ ông. – Cái máy nói, như người ta nhắc lại một phép tính để kiểm tra. – Còn tôi ra bến thì không chờ ai.
– Tôi không biết anh chờ ai.
Ba giờ chiều, mạ về.
Mạ về chung chuyến đò với nhà anh Tùng. Anh Tùng xách hai thùng bia, chị Diệu xách mấy túi đồ Tết, thằng Bin bảy tuổi chạy lên cầu ván trước nhất, gào lên "Mệ cố ơi!". Mạ đi sau cùng, cái nón lá, cái áo khoác len xám, xách cái giỏ đựng mấy cây giò lụa với một hộp mè xửng. Mạ bước lên cầu ván, ngẩng lên, và thấy cái máy đứng ở đầu bến.
Mạ đứng sững lại giữa cầu.
– Con chào bác. – Cái máy cúi đầu.
Mạ không chào lại. Mạ đi ngang qua nó, như đi ngang qua một cái cột đèn. Tới chỗ Duyên đứng, mạ mới nói, đủ to cho cả bến nghe:
– Hắn ra đón tau đó hả?
– Dạ, nó ra đón cả nhà.
– Tau không cần.
Anh Tùng đi tới sau lưng mạ, nhìn cái máy từ đầu tới chân, huýt sáo một tiếng.
– Đời Chín đó hả mi? Ngon lành rứa. Thuê bao nhiêu?
– Mười chín triệu.
– Một tháng?
– Dạ.
Anh Tùng lắc đầu, cười nhạt, xách hai thùng bia đi lên ngõ.
Chỉ có thằng Bin là không quan tâm chuyện tiền. Nó đứng ngây ra nhìn cái máy, rồi chìa tay ra sờ cái áo khoác của nó, rồi sờ bàn tay nó.
– Chú ấm nè! – Nó hét lên. – Mạ ơi, chú máy ấm nè!
Chị Diệu kéo thằng Bin lại, cười gượng với cái máy. Cái máy cười lại với chị. Duyên chưa từng thấy nó cười. Một cái cười nhỏ, vừa phải, khoé miệng nhích lên, mắt không đổi. Đúng mức ba.
Buổi chiều, nhà đông, Duyên lu bu theo mạ làm đồ Tết. Mạ ngồi gói bánh tét ở hiên, chị Diệu ngâm nếp, anh Tùng leo lên mái sửa mấy viên ngói lệch. Mạ không cho cái máy đụng vào nồi nếp. "Đồ cúng ông bà, máy móc rờ vô răng được." Cái máy đi quét sân, chẻ củi, rồi bế thằng Bin lên vai cho nó hái mấy trái khế trên cây. Thằng Bin cười như được mùa.
Bốn giờ năm mươi phút, cái máy đặt thằng Bin xuống, đi rửa tay ở lu nước.
Duyên thấy. Mạ cũng thấy. Mạ đang buộc lạt cây bánh tét, hai tay dừng lại.
Năm giờ, cái máy đi ra cửa, xuống bậc thềm, đi xuống con ngõ cát. Cả nhà dừng tay. Anh Tùng ngồi trên mái nhìn xuống. Chị Diệu đứng ở cửa bếp, tay còn ướt nếp. Thằng Bin định chạy theo, chị Diệu chụp tay nó lại.
– Đó. – Mạ nói. Giọng mạ run. – Mi thấy chưa.
Duyên đứng dậy.
– Mạ, con ra với nó.
– Mi ra làm chi?
– Con ra đứng với nó.
Cô đi xuống ngõ. Cát lạnh dưới chân. Cô đi ra cầu ván, gió phá thổi lạnh rát hai má. Cái máy đứng ở cuối cầu, quay mặt ra phá, như trong đoạn phim của o Lài. Cô đứng cạnh nó. Cô không nói gì.
Mặt phá chiều nay sáng hơn mấy hôm trước. Mây rách ra ở phía tây, một dải nắng vàng loang xuống mặt nước, chiếu qua mấy hàng nò sáo làm chúng hiện lên đen sì như những hàng chữ không ai đọc được. Mấy chiếc đò chạy ngang, người trên đò ngoái lại nhìn hai cái bóng đứng ở cuối bến.
– Duyên lạnh không? – Cái máy hỏi.
– Lạnh.
Nó cởi cái áo khoác, khoác lên vai cô. Cái áo ấm, đúng ba mươi sáu độ rưỡi, ấm như vừa cởi ra từ một người.
Họ đứng đó ba mươi lăm phút. Cô đếm.
Tới khi chiếc đò chót của chiều hai mươi tám chạy qua, tiếng máy đò nhỏ dần về phía bến Mỹ, cái máy nghiêng đầu sang một bên, chỉ một chút, rồi nhìn xuống chân. Rồi nó quay lại nhìn cô.
– Về được rồi. – Nó nói.
Bữa tối, nhà ngồi đủ quanh mâm. Cái máy đứng ở góc bếp. Mạ không mời nó ngồi, mà nó cũng không ngồi. Anh Tùng uống bia, mặt đỏ dần lên, rồi nói chuyện đất.
– Mệ, con nói thiệt. Cái dự án khu nghỉ nổi bên đầu cồn, người ta trả bốn tỉ cho miếng đất ni. Bốn tỉ đó mệ. Mệ lên Cố Lam ở với mạ, con lo cho mệ. Không phải thuê máy chi cho tốn.
– Mệ không đi. – Mệ nói, gắp miếng dưa món.
– Mệ không đi thì mệ ở đây, mà mệ để con Duyên đốt tiền. Trăm mười bốn triệu, mệ!
– Anh Tùng. – Duyên nói. – Tiền em, em trả.
– Tiền mi, mi trả. Đất nhà, nhà bán. Mai mốt mệ trăm tuổi, đất ni vô tay ai?
– Tùng! – Mạ quát. Cả mâm im.
Mạ đặt đũa xuống. Mạ nhìn Duyên. Mạ không nhìn cái máy, dù nó đứng ngay sau lưng Duyên, cách hai bước.
– Chuyện đất để sau. – Mạ nói. – Chuyện ni thì tau nói một lần. Tau để mi ăn Tết với hắn. Rằm tháng Giêng mi trả hắn cho tau.
— Hết chương 4 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe