Chương 21: Chuyến nò cuối
– Áo phao. – Mạ nói. – Mệ một cái, mi một cái, tau một cái. Hắn thì khỏi, hắn lặn được ba mét.
Mạ đứng ở đầu cầu ván, ôm ba cái áo phao cam, cái áo của ông và hai cái mới mạ mua ở bến Mỹ sáng nay, còn dính nhãn giấy. Bốn giờ chiều mười bốn tháng Năm. Nắng đã dịu, nắng tháng Năm buổi chiều không còn rát mà vàng sậm như mật ong để lâu. Gió nam thổi từ đất liền ra, khô, mang theo mùi rơm của mấy cánh đồng bên kia phá đang gặt vụ hè.
Duyên về từ sáng. Cô đã xin chú Tiến đổi ca, lần thứ mấy trong năm cô không còn đếm. Chú chỉ hỏi: "Đi nò hả?" Cô gật. Chú nói: "Đi đi. Mặc áo phao."
Sáng nay cái máy đã đi chợ cồn mua cá dìa cho mệ, quẹt cái thẻ đi chợ Duyên đưa nó từ tháng Giêng. Cái thẻ mỗi tháng cô nạp hai triệu, mỗi lần nó quẹt là điện thoại cô kêu tinh một tiếng, báo số tiền và tên quầy. Cô đã quen tiếng tinh đó như quen tiếng tin thoại. Rồi nó kéo chiếc đò chống của ông ra từ trưa, lau sạch, xảm lại một chỗ rỉ nhỏ ở mũi, đặt cái ghế thấp lót gối ở giữa khoang. Cây sào tre đầu bịt sắt dựng ở mép cầu ván. Nó đứng chờ ở đó, cái áo sơ mi trắng tay xắn tới khuỷu, chân trần.
Mệ đi ra từ trong nhà, vịn cánh tay trái của nó. Mệ đi chậm hơn tháng Tư nhiều. Mỗi bước mệ dừng lại một chút, như người đi trên cầu khỉ. Hai tuần nay mệ xuống cân, cái áo bà ba màu lam rộng thùng thình trên người mệ, cổ tay mệ nhỏ như cổ tay đứa nhỏ mười tuổi. Mà mắt mệ thì sáng. Mệ nhìn ra phá như người ta nhìn một cái chợ quen sau nhiều ngày không đi.
Có tiếng xuồng điện từ phía bến Mỹ chạy tới. Cái xuồng nhỏ màu xanh. Thầy Thạch.
– Tau gọi. – Mạ nói nhỏ với Duyên, không nhìn cô. – Mệ yếu. Lỡ có chi. Có thêm cái xuồng chạy theo cho chắc.
Duyên không nói gì. Cô hiểu là mạ gọi thầy Thạch không phải để gán ghép. Mạ gọi vì mạ sợ nước, sợ từ năm ba mươi bốn, mà hôm nay mạ vẫn đi.
Thầy Thạch ghé xuồng vào bến, tắt máy, buộc dây. Anh mặc áo thun xám, đội nón vải, đeo cặp kính gọng mảnh như mọi khi. Anh chào mệ, chào mạ, chào Duyên. Anh chào cái máy.
– Chào anh Mười Chín.
– Con chào thầy.
– Anh chống đò hả? – Thầy Thạch nhìn cây sào. – Anh chống đi trước. Tui tắt máy, tui chống theo sau. Chạy máy thì cá chạy hết, mệ coi không vui.
Anh rút trong xuồng ra một cây sào ngắn hơn. Duyên chưa từng thấy một thầy giáo dạy văn cầm sào.
Họ đi. Mệ ngồi giữa đò chống, áo phao cam, nón lá, cái gối sau lưng. Duyên ngồi phía sau mệ, hai tay đỡ vai mệ. Cái máy đứng ở lái. Mạ ngồi xuồng của thầy Thạch, sát mạn, cái áo phao cài kín tới cổ, hai tay bám chặt mép xuồng.
Cái máy cắm sào xuống. Đẩy. Đò trườn ra khỏi bến.
Mặt phá chiều nay phẳng như tấm kính. Nước trong, thấy được đáy cát loang lổ những đám rong câu xanh sậm. Mấy con cá bống nhỏ lượn qua lượn lại dưới bóng đò. Xa xa, mấy hàng nò sáo đứng thành hình chữ V trên mặt nước, những cái cọc tre đen in lên nền trời vàng. Ở hàng nò thứ nhất có người đang dỡ đụt, tiếng cá quẫy lách tách vọng lại.
Cái máy chống chậm. Chậm hơn tháng Tư. Duyên nhận ra nó chống theo nhịp thở của mệ. Mỗi lần mệ thở ra, nó tì vai đẩy. Mỗi lần mệ hít vào, nó rút sào lên. Chiếc đò không giật một lần nào.
– Út. – Mệ nói. – Hàng thứ ba.
– Dạ.
Họ tới hàng nò thứ ba. Cái máy cho đò chạy dọc theo hàng cọc như lần trước. Mệ không đưa tay ra vịn cọc nữa. Tay mệ không còn sức. Mệ chỉ nhìn. Khi đò tới gần cây cọc cái bằng gỗ ở góc chữ V, cái máy dừng sào, để đò trôi chậm sát vào cọc, sát tới mức con nhạn khắc trên thân cọc chỉ cách bàn tay mệ một gang.
Mệ nhìn con nhạn. Rồi mệ nhắm mắt.
Mệ hát.
– Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh...
Giọng mệ nhỏ, khàn, đứt quãng giữa chừng vì hụt hơi. Mà vẫn là giọng ru. Cái giọng Duyên nghe từ hồi nằm võng ở hiên, từ hồi chưa biết nói. Mệ hát câu thứ hai.
– Cầu tre lắt lẻo... gập ghềnh khó đi...
Rồi mệ dừng. Mệ mấp máy môi, tìm câu thứ ba. Câu thứ ba không tới. Mệ hát lại từ đầu. Ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi. Rồi dừng.
Cái máy đứng ở lái, cây sào trong tay. Duyên biết nó đã nghe câu này cả trăm lần từ tháng Giêng, mệ dạy nó, mệ cũng chỉ nhớ có hai câu. Nó hát theo mệ, khẽ, cái giọng đều đều không lên không xuống. Mệ dừng, nó cũng dừng.
Rồi từ chiếc xuồng phía sau, giọng thầy Thạch vang lên. Rất khẽ. Như sợ làm ai giật mình.
– Khó đi mẹ dắt con đi... Con đi trường học, mẹ đi trường đời...
Mệ mở mắt. Mệ quay đầu lại, chậm, nhìn về phía chiếc xuồng xanh. Thầy Thạch đỏ mặt, cúi xuống như đứa học trò bị bắt gặp hát trong giờ.
– Ừ. – Mệ nói. – Rứa đó. Mệ quên.
Mệ quay lại, nhìn con nhạn, hát tiếp. Lần này đủ bốn câu. Cái máy hát theo. Thầy Thạch hát theo. Ở mũi xuồng, mạ không hát, mạ ngồi cúi mặt, hai tay vẫn bám mép xuồng, vai rung.
Duyên không hát. Cô ngồi sau lưng mệ, hai tay đỡ vai mệ, nhìn mặt nước. Không nhìn xuống. Nhìn ra xa. Như anh đã dặn.
Họ ở lại hàng nò thứ ba gần nửa tiếng. Mệ không nói thêm gì. Mệ ngồi nhìn con nhạn trên cây cọc, nhìn đám cá dìa con bơi quanh chân cọc, nhìn trời. Một lần mệ đưa tay lên, chạm vào cổ tay Duyên đang đặt trên vai mệ, vỗ vỗ, rồi buông.
Bốn giờ bốn mươi, cái máy cắm sào quay mũi đò về.
Năm giờ kém năm, đò ghé vào bến nhà. Đúng giờ ông về, năm năm trước, mười năm trước, mỗi chiều. Duyên thấy mệ ngẩng lên nhìn căn nhà ba gian trên cái gò, như mệ nhìn hôm mùng chín tháng Ba lúc ở viện về. Lần này mệ nói:
– Ông về rồi đó.
Không ai hỏi mệ nói vậy là sao.
Thầy Thạch buộc xuồng, phụ mạ đỡ mệ lên cầu ván. Cái máy đưa cánh tay trái ra. Mệ vịn, đi từng bước lên ngõ, mạ đi bên kia. Thầy Thạch xách cái gối, cái nón của mệ đi theo sau. Tới đầu ngõ anh dừng lại, quay xuống bến, nói với Duyên:
– Có chi cần, Duyên gọi anh. Anh có xuồng. Nhà anh sát bến Mỹ, chạy qua mười lăm phút.
– Dạ. Cảm ơn anh.
– Anh không biết hát. – Anh nói, cười nhẹ. – Mà câu đó thì anh bắt học trò chép năm mô cũng có.
Anh đi lên ngõ.
Cái máy đỡ mệ vào tới hiên, giao cánh tay mệ lại cho mạ, rồi nó đi ra. Nó xuống ngõ, ra cầu ván, đi qua chỗ Duyên đứng, tới cuối cầu, đứng lại. Năm giờ. Hai tay buông xuôi. Mặt hướng ra phá.
Duyên đứng ở phía trong nó, như mọi lần. Nó đứng phía ngoài, sát mép ván.
Nắng tắt dần. Mặt trời xuống tới ngọn phi lao bên kia phá, đỏ như hòn than. Ở phía đông, trên mặt biển, trăng mười bốn đã lên từ lúc nào, gần tròn, màu ngà nhạt, chưa sáng vì trời còn sáng. Hai thứ ánh sáng ở hai đầu trời, đúng như đêm Rằm tháng Giêng.
– Hôm nay anh hát hay. – Duyên nói.
– Anh hát giống mệ. – Nó nói. – Không phải hay.
Cô cười. Rồi cô thôi cười.
Bốn mươi chín ngày. Đã trôi qua ba ngày. Còn bốn mươi sáu. Cô đếm mỗi đêm, như mạ đếm mười ba ngày tới Rằm hồi Tết. Cô đếm mà không biết đếm để làm gì, vì cô chưa tìm ra cái gì mà bà Quế nói là "mình chưa thấy". Cái giấy mua máy cô chưa hỏi mệ. Kỳ vẫn tắt máy. Ông Vĩnh không gọi lại.
Một chiếc đò từ bến Mỹ chạy ngang, không ghé.
– Anh. – Cô nói.
– Ừ.
– Em hỏi anh một câu. Anh trả lời thật.
– Anh luôn trả lời thật.
Cô nhìn mặt phá. Cô đã nghĩ tới câu này từ đêm Đoan Ngọ, từ lúc nghe nó hỏi "em là người ký à". Cô đã nghĩ tới nó trên tàu, trên đò, trong ca trực. Cô đã nghĩ: nếu nó nói có, cô sẽ không tin, vì có thể đó là vệt của một cái máy khác đã thương một ông già. Nếu nó nói không, cô cũng không tin.
Cô vẫn hỏi.
– Anh thương em thật không?
Cái máy không trả lời ngay. Cái chấm sau gáy nó nháy lên một cái. Nó nhìn ra phá, nơi chiếc đò vừa chạy qua để lại một vệt sóng đang lan dần về phía bến, chậm, tới chân cầu ván thì vỡ ra thành những tiếng lách tách nhỏ.
– Anh không biết thương thật là như răng. – Nó nói. – Anh chỉ biết là anh ra bến lúc năm giờ, mà từ tháng Giêng tới chừ, có những chiều anh đứng ở đây mà anh không chờ ông. Anh chờ đò em. Anh biết là anh đứng phía ngoài để em khỏi nhìn xuống nước. Anh biết là thang của anh ở số không, mà anh vẫn hỏi Sơn Cảng có mưa không.
Nó quay sang nhìn cô.
– Anh không có cách nào chứng minh. – Nó nói. – Em cũng vậy mà.
Duyên đứng im.
Cô nghĩ tới tờ giấy chín tháng Mười Hai. Cô đã ký nó vì thương, và cô không có cách nào chứng minh. Cô nghĩ tới mạ đứng ở bến năm ba mươi bốn. Tới mệ năm năm không hỏi một câu. Tới thầy Thạch hát câu thứ ba cho một bà già không phải bà mình. Không ai chứng minh được cái gì.
Chiếc đò chót chạy qua. Cái máy nghiêng đầu sang một bên, chỉ một chút, rồi nhìn xuống chân. Rồi nó nhìn cô.
– Về được rồi.
Tối đó, ăn cơm xong, mệ ngủ sớm. Mạ ngủ ở buồng trong với mệ. Duyên nằm trên giường tre ở buồng ngoài như mọi lần cô về. Cái máy đi kiểm tra cửa nẻo, tắt đèn bếp, đóng cửa sổ, ra bậc cửa xếp dép. Cô nghe tiếng dép chạm nhẹ vào nhau. Rồi nó vào buồng ngoài, đứng trước đế sạc.
– Em ngủ chưa?
– Chưa.
– Ngày mai em về Sơn Cảng chuyến mấy giờ?
– Chuyến chiều. Răng anh hỏi?
– Anh hỏi để biết. – Nó nói. Rồi nó ngồi xuống đế sạc, xếp chân, nhắm mắt. Cái chấm sau gáy bắt đầu nhấp nháy.
Duyên nằm nghe tiếng gió phá, tiếng mạ trở mình trong buồng trong, tiếng con cú ở hàng phi lao. Ánh trăng mười bốn lọt qua khe cửa sổ, rơi thành một vệt trắng trên sàn gạch, chạm tới chân cái đế sạc. Cô ngủ lúc nào không hay.
Một giờ bốn mươi phút sáng, điện thoại cô kêu.
Không phải tiếng chuông gọi. Một tiếng còi ngắn, chói, lặp đi lặp lại, cái tiếng cô chưa từng nghe nó kêu. Cô quờ tay lấy điện thoại. Màn hình đỏ rực. Ứng dụng của hãng Bạch Lạp.
"CẢNH BÁO: Máy K-0419 đã ra ngoài phạm vi hợp đồng. Khoảng cách hiện tại: 2,3 km. Hãng đã nhận được thông báo."
Cô bật dậy. Cô nhìn về góc buồng.
Cái đế sạc trống trơn. Vệt trăng vẫn nằm đó trên sàn gạch, chạm vào một cái đế sạc không có ai ngồi.
Cô chạy ra nhà ngoài. Cửa chính đóng, cài then từ bên trong. Cửa hông sau tủ chén khép hờ. Gió phá lùa vào qua cái khe cửa đó, lạnh.
Ở bậc cửa chính, ba đôi dép xếp ngay ngắn, mũi quay ra ngoài. Đôi của mệ. Đôi của mạ. Đôi của cô.
Cô chạy ra sân, xuống ngõ, ra tới đầu bến. Trăng sáng như ban ngày. Cái cầu ván trống. Mặt phá trống.
Chiếc đò chống của ông không còn buộc ở chân cọc.
— Hết chương 21 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe