Chương 22: Máy bỏ đi
"Tin thoại, mười hai giờ mười chín phút sáng, mười lăm tháng Năm."
Duyên nghe cái tin đó lúc một giờ bốn mươi ba, đứng ở đầu cầu ván dưới trăng, chân trần, cái điện thoại run trong tay. Nó nằm trong hộp thư từ hơn một tiếng trước. Cô đã ngủ say tới mức không nghe tiếng báo.
"Anh đi một chuyến. Mệ ngủ lúc tám giờ năm phút, nhịp tim lúc mười một giờ là bảy mươi sáu. Bác Hường ngủ ở buồng trong. Thuốc sáng của mệ anh đã chia sẵn trên cái khay nhôm cạnh bàn thờ, ba viên trắng một viên vàng. Cháo anh nấu sẵn, để trong nồi nhỏ trên bếp, sáng em bật lửa liu riu mười phút."
Ngừng. Có tiếng sào cắm xuống nước, đều, chậm.
"Anh biết em sẽ gọi. Anh sẽ không bắt máy. Nếu anh bắt máy, em hỏi anh đi mô, anh phải nói thật. Anh chưa muốn nói. Anh xin lỗi."
"Em đừng ra phá tìm anh ban đêm. Em không nhìn xuống nước được."
Hết.
Cô gọi. Chuông đổ mười hai hồi, rồi tắt. Cô gọi lại. Mười hai hồi. Cô đứng đó, nhìn mặt phá trắng xóa dưới trăng mười lăm, nhìn những hàng nò sáo đen sì, nhìn xa tít về phía bến Mỹ có mấy ngọn đèn đường vàng nhòe. Không có cái bóng nào trên mặt nước.
Điện thoại rung trong tay cô. Một số lạ, mã vùng Sơn Cảng.
– Chị Mạc Thanh Duyên phải không ạ? Em ở tổ giám sát ca đêm của Bạch Lạp. – Giọng một cô gái trẻ, nói nhanh, cái giọng của người đã đọc câu này nhiều lần. – Hệ thống ghi nhận máy K-0419 rời phạm vi lúc một giờ ba mươi tám phút. Vị trí hiện tại là khu vực bến Mỹ, đang di chuyển về hướng nam theo đường ven phá. Máy có đi cùng chị không ạ?
– Không.
– Dạ. Chị có biết máy đi đâu không?
– Không.
Đầu dây im một chút. Có tiếng gõ phím.
– Dạ, theo thỏa thuận tạm hoãn ký ngày mười một, trong trường hợp máy vi phạm phạm vi, công ty sẽ thu hồi máy về kho Bắc Cảng ngay khi xác định được vị trí. Em đã báo lên anh Vĩnh. Đội thu hồi sẽ xuất phát ngay khi có lệnh của anh Vĩnh. Chị vui lòng không tự ý...
Duyên cúp máy.
Cô đứng thêm một lúc. Cô biết cái máy đã đọc lá thư đó. Cô đã chuyển cho nó đọc ngay chiều mười một, cô nhớ nó đọc xong thì nói: "Bốn mươi chín ngày. Anh ở nhà được bốn mươi chín ngày." Nó biết. Nó biết mà vẫn đi. Bốn mươi lăm ngày còn lại, nó đổi lấy một chuyến đò lúc nửa đêm.
Cô chạy lên nhà gọi mạ.
Mạ ngồi bật dậy trên giường như người bị đánh thức bằng nước lạnh. Mạ không hỏi gì. Mạ nhìn mặt Duyên, rồi mạ đứng dậy, khoác áo, đi ra hiên. Mạ nhìn xuống bến. Duyên thấy mạ nhìn chỗ chân cọc, chỗ chiếc đò chống vẫn buộc chiều qua. Cô thấy mạ đưa tay lên bịt miệng.
– Đò ông. – Mạ nói qua kẽ tay. – Hắn lấy đò ông. Ban đêm. Trên phá.
– Mạ, nó không sao. Hãng nói nó đang ở bến Mỹ. Nó qua tới nơi rồi.
Mạ không nghe. Mạ đứng ở bậc thềm, cái áo khoác len xám trùm vai, nhìn ra mặt phá trắng trăng, và Duyên biết mạ không thấy cái máy. Mạ thấy một chiếc ghe khác, một chiều tháng Mười năm ba mươi bốn.
– Mạ. – Duyên nắm tay mạ. Tay mạ lạnh như đá. – Mạ vô với mệ. Đừng cho mệ dậy. Con lo.
Cô chạy qua nhà o Lài.
O Lài mở cửa trong bộ đồ ngủ hoa, tóc xõa, mắt nhắm mắt mở. Nghe hai câu, o tỉnh hẳn. O quay vào gọi chồng, rồi gọi sang mấy nhà bên. Mười lăm phút sau, ở đầu bến nhà mệ có sáu người đàn ông, hai chiếc xuồng máy, mấy cây đèn pin. Thằng Bờm chạy ra sau cùng, áo thun lộn trái, chân đất.
– Chú Út mô cô?
– Chú đi rồi. – Duyên nói. – Chú lấy đò ông qua bến Mỹ.
Thằng Bờm đứng im. Rồi nó nói, rất chắc, cái giọng của đứa trẻ con nói một điều nó biết hơn người lớn:
– Chú không chìm. Chú buộc đò đó cô. Chú đi.
Hai chiếc xuồng chạy qua phá. Duyên ngồi chiếc đầu, cạnh chồng o Lài. Cô không nhìn xuống nước. Cô nhìn bến Mỹ lớn dần trong trăng.
Chiếc đò chống của ông nằm ở bến Mỹ, buộc vào cái cọc sắt cuối dãy, chỗ người ta buộc ghe đánh cá. Dây buộc nút chặt, cái nút thòng lọng kép mà ông hay buộc, Duyên nhận ra ngay. Cây sào tre dựng dọc theo mạn đò, đầu bịt sắt chĩa lên trời. Cái ghế nhỏ lót gối của mệ vẫn ở giữa khoang. Trên cái ghế có đặt một chiếc dép nhựa.
Một chiếc thôi. Cái dép nhựa màu xanh của nó, cái đôi Duyên mua cho nó hồi tháng Giêng để đi trong nhà. Mũi dép quay về phía Cồn Nhạn.
Không ai nói gì. Chồng o Lài cầm chiếc dép lên, xoay xoay, rồi đặt lại chỗ cũ.
Thằng Bờm đi cùng chiếc xuồng thứ hai. Nó nhảy lên bến, đi một vòng quanh chiếc đò, rồi đi lại chỗ Duyên đứng.
– Cô. – Nó nói nhỏ. – Bữa qua chú hỏi con một câu.
– Câu chi?
– Chú hỏi con Hội Lâm đi xe mấy tiếng. Con nói con không biết, con chưa đi Hội Lâm bao giờ. Chú nói ừ. – Thằng Bờm ngừng. – Con tưởng chú hỏi chơi. Chú có bao giờ hỏi chơi mô.
Hội Lâm.
Duyên đứng trên bến Mỹ dưới ánh đèn đường, nghĩ tới cái giọng nhỏ nhẹ, kéo dài ở cuối câu. Cái giọng phố cổ. Mùng Bảy tháng Giêng, Kỳ ngồi với nó ở bậc thềm sau nhà năm phút. Kỳ nói gì đó. Nó gật đầu. Kỳ nói thêm. Nó lắc đầu. Rồi Kỳ đặt tay lên vai nó.
Cô đứng đó cho tới khi mấy người đàn ông bàn nhau kéo chiếc đò chống về. Cô bảo họ cứ kéo về, buộc lại ở bến nhà mệ. Cô bảo thằng Bờm về ngủ. Nó không chịu về. Nó ngồi xuống mép bến Mỹ, ôm gối, nhìn về phía con đường ven phá chạy về hướng nam.
Bốn giờ bốn mươi mốt phút sáng, điện thoại cô kêu tinh.
Không phải tin thoại. Cái tiếng báo của thẻ đi chợ.
"Thanh toán thành công. Một trăm hai mươi nghìn. Quầy vé ga Cố Lam. Vé tàu điện Cố Lam – Sơn Cảng, chuyến bốn giờ năm mươi."
Duyên nhìn dòng chữ đó rất lâu. Cái thẻ cô nạp hai triệu mỗi tháng để nó mua cá, mua rau, mua thuốc cho mệ. Nó chưa bao giờ quẹt một đồng nào ngoài chợ cồn và tiệm thuốc cạnh đình. Cô đã quen tiếng tinh đó như quen tiếng gà gáy: tinh, ba mươi lăm nghìn rau muống với tôm; tinh, hai trăm nghìn cá dìa. Bây giờ là tinh, một trăm hai mươi nghìn, vé tàu.
Nó đi bộ từ bến Mỹ ra ga. Bốn mươi phút xe chạy. Đi bộ chắc ba tiếng. Nó đi dưới trăng mười lăm, dọc con đường ven phá, rồi qua mấy cây cầu, vào thành phố đang ngủ, một mình, cái áo sơ mi trắng tay xắn, một chân dép.
Cô gọi cho thầy Thạch.
Anh bắt máy ở hồi chuông thứ hai, giọng tỉnh như người chưa ngủ.
– Duyên.
– Anh Thạch, em xin lỗi gọi giờ ni. Anh chở em qua ga được không? Em đang ở bến Mỹ.
– Anh tới liền. Mười phút.
Anh tới trong tám phút, bằng cái xe máy điện cũ, cái áo khoác trùm vội ra ngoài bộ đồ ngủ kẻ sọc. Anh không hỏi gì. Anh đưa cô cái mũ bảo hiểm, chờ cô ngồi lên, rồi chạy. Trên đường ra ga, cô kể. Anh nghe, gật đầu, không nói gì cho tới khi dừng xe trước sân ga.
– Duyên đi một mình được không?
– Được.
– Anh về qua nhà mệ. – Anh nói. – Anh ngồi với bác Hường tới sáng. Bác đang sợ nước. Duyên đừng lo.
Cô nhìn anh. Cô không biết anh biết chuyện mạ sợ nước từ bao giờ. Có lẽ từ chiều qua trên chiếc xuồng xanh, khi mạ ngồi bám mép xuồng tới trắng ngón tay suốt một tiếng đồng hồ.
– Cảm ơn anh.
– Đi đi. – Anh nói. – Tàu sáu giờ năm mươi lăm.
Sáu giờ mười hai, khi tàu của cô còn chưa chạy, điện thoại kêu tinh lần nữa.
"Thanh toán thành công. Bốn mươi lăm nghìn. Xe buýt điện tuyến Sơn Cảng – Hội Lâm."
Cô ngồi trên băng ghế sân ga Cố Lam, nhìn trời hửng sáng sau mấy mái nhà ga lợp ngói đỏ. Cô nhắn cho Châu: "Bà trực thế tui ca sáng. Tui đi Hội Lâm. Về tui kể." Châu nhắn lại đúng một chữ: "Đi."
Ông Vĩnh gọi lúc cô đang ở trong hầm đèo Mây, nên cô không nghe được. Ra khỏi hầm, có tin nhắn của ông. "Chị Duyên, đội thu hồi sẽ tới Hội Lâm đầu giờ chiều. Vị trí cuối cùng của máy: một con kiệt nhỏ phía sau chợ phố cổ. Máy đã chuyển sang chế độ ngủ tiết kiệm pin. Tôi đề nghị chị không đến đó. Việc này không còn là việc của người thuê."
Cô đọc xong, cất điện thoại.
Xe buýt từ Sơn Cảng đi Hội Lâm chạy một tiếng rưỡi, dọc theo con đường biển. Xe qua mấy làng chài có những hàng dừa nghiêng, những mái nhà nâng nền cao như nhà mệ, những đoạn đê mềm màu cỏ úa. Cô ngồi cuối xe, cạnh cửa sổ. Nắng tháng Năm đã lên gắt. Cô ngồi nghĩ tới cái chiếc dép đặt trên ghế của mệ, mũi quay về phía Cồn Nhạn. Một chiếc. Chiếc kia nó mang đi.
Phố cổ Hội Lâm lúc mười giờ sáng đông người. Những dãy nhà gỗ thấp mái ngói âm dương, tường vàng, cửa gỗ lim sậm màu, đèn lồng giấy treo dọc mái hiên. Duyên đi qua chợ, qua mấy gian hàng bán vải, bán đồ đồng, bán bánh, rẽ vào con kiệt phía sau theo cái chấm đỏ trên bản đồ ông Vĩnh gửi. Con kiệt hẹp, chỉ vừa một chiếc xe đạp, hai bên tường rêu loang lổ, có giàn hoa giấy đỏ thò ra từ một cái sân.
Ở giữa con kiệt, trước một căn nhà gỗ nhỏ cửa đóng kín, cái máy ngồi trên bậc cửa.
Lưng nó dựa vào cánh cửa gỗ. Hai đầu gối co lên. Hai tay đặt trên gối. Mắt nhắm. Cái chấm sau gáy nhấp nháy chậm, rất chậm. Cái áo sơ mi trắng lấm bụi đường, một bên vai dính một vệt bùn khô. Chân trái nó mang dép. Chân phải trần, lòng bàn chân dính đầy cát.
Một ông cụ ngồi trước cửa nhà đối diện, cái ghế nhựa thấp, tay cầm cái quạt nan. Thấy Duyên dừng lại, ông nói, giọng phố cổ kéo dài y như giọng Kỳ:
– Cô tìm cái máy nớ hả? Nó ngồi đó từ tám giờ. Tui mời vô nhà uống nước, nó không vô. Nó nói nó chờ chị Kỳ. Tui nói con Kỳ đi chợ, trưa mới về. Nó nói dạ, con chờ.
Duyên đi tới. Cô ngồi xuống bậc cửa, cạnh nó.
Cái chấm sau gáy nó ngưng nhấp nháy. Mắt nó mở ra. Nó quay sang nhìn cô, không có vẻ gì ngạc nhiên.
– Em tới rồi. – Nó nói.
Cô không trả lời được. Cô nhìn bàn chân trần dính cát của nó.
Ở đầu kiệt có tiếng bước chân. Một người phụ nữ nhỏ người, tóc cắt ngắn tới gáy, mặc áo thun bạc màu, tay xách hai túi ni lông đựng rau và cá. Người đó đi tới giữa kiệt thì dừng lại.
Lương Nhã Kỳ đứng đó, nhìn hai người ngồi trên bậc cửa nhà mình. Mặt chị không đổi. Rồi chị đi tới, chậm, đặt hai túi đồ xuống đất, lấy chìa khoá trong túi quần ra.
– Em biết sớm muộn nó cũng tìm tới. – Chị nói.
Chị tra chìa vào ổ, vặn. Cánh cửa gỗ mở ra vào trong một căn nhà tối, mát, có mùi dầu máy.
— Hết chương 22 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe