AI Truyện
Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

🕯️ Truyện ma kinh dị

Bộ rập trên gác xép

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã · Chương 8/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Bộ rập trên gác xép

– Mày làm nghề sửa giấy thì lên gác xem hộ bà cái hòm rập, – bà Tần nói, không nhìn tôi. – Tháng trước mưa to, mái dột đúng chỗ ấy. Ướt hết cả rồi.

Bà nói câu ấy lúc bảy giờ sáng thứ Năm, khi đang đổ nước chè vào cái phích. Tôi đã định hôm nay lên xã một lần nữa, hoặc ra bãi xem cái bóng trắng chiều qua đi đâu. Bà nói như sai cháu đi lấy rổ rau, nhưng tay bà rót chè tràn cả ra miệng phích mà không biết.

Gác xép nằm trên gian giữa, lên bằng một cái thang tre gác vào lỗ hổng trên trần ván. Tôi trèo lên, đầu chạm vào một tấm mạng nhện dày như vải màn. Trên ấy tối, nóng hầm hập, mái ngói ở ngay trên đầu, nắng lọt qua những kẽ ngói thành từng sợi sáng mảnh, trong mỗi sợi sáng có hàng nghìn hạt bụi lơ lửng. Mùi gỗ mục, mùi phân dơi, mùi giấy ẩm. Tôi bò bằng đầu gối trên những tấm ván, soi đèn điện thoại. Có những cái nong, cái nia cũ xếp chồng, một cái khung cửi gãy, mấy cái lọ sành, một chồng đòn gánh. Một con dơi ở đâu đó trên xà nhà vụt bay qua đầu tôi, đôi cánh đập vào không khí nghe phành phạch như ai giũ một tờ báo, rồi chui ra một kẽ ngói. Ở góc trong cùng, ngay dưới một mảng ngói đã được ai thay mới, là cái hòm gỗ.

Hòm gỗ mít, dài chừng một sải tay, nắp cài bằng một thanh tre. Mặt nắp còn vệt nước loang thành hình như tấm bản đồ. Tôi mở nắp, và mùi mốc xộc lên khiến tôi phải quay đi.

Bên trong là rập. Hàng trăm tấm rập, những khuôn giấy cắt sẵn hình các bộ phận của ngựa, của voi, của hình nhân, để thợ đặt lên giấy màu mà cắt theo. Rập cắt bằng thứ giấy dày như bìa, loại giấy bản bồi nhiều lớp, có tấm còn quét một lượt sơn ta cho cứng. Tấm trên cùng đã dính bết vào nhau thành một tảng, mặt mốc lốm đốm trắng xanh. Những tấm phía dưới còn khô, xếp theo từng tập, mỗi tập buộc một sợi lạt.

Tôi ngồi đó một lúc, tay đặt trên mép hòm. Ở bảo tàng, một cái hòm thế này sẽ được người ta mang vào phòng lạnh, chụp ảnh từng lớp, đánh số trước khi chạm. Ở đây chỉ có tôi, cái đèn điện thoại, và bà cụ tám mươi hai tuổi đang đứng dưới chân thang, hỏi vọng lên "Có hỏng hết không?".

– Dạ không hỏng hết đâu bà. Con cứu được.

Tôi bê từng tập xuống. Mất nửa buổi sáng. Tôi trải chiếu ngoài hiên, chỗ có bóng mát, căng một sợi dây thép từ cột hiên sang cây cau. Tôi lấy bình xịt sương trong túi đồ nghề ra, xịt thật nhẹ vào cái tảng giấy dính bết, chờ hơi nước ngấm vào lớp hồ cũ. Rồi tôi luồn con dao gạt bằng xương vào giữa hai lớp, tách từng chút một. Rập dính vào nhau bằng hồ sắn của chính nó, ướt rồi khô, khô rồi ướt, mỗi lớp cứng như vỏ bánh đa. Tách được tấm nào thì đặt lên giấy thấm, chặn bốn góc bằng mấy viên sỏi, chờ se rồi mới phơi lên dây.

Bà Tần ngồi trên chõng nhìn tôi làm, nhai trầu, không nói gì. Lâu lâu bà lại đưa tay nhặt một tấm rập đã khô, lật đi lật lại, rồi đặt xuống.

Trên mỗi tấm rập đều có chữ. Người ta phải ghi rập là của bộ phận nào, cho con gì, cỡ bao nhiêu, kẻo thợ cắt nhầm. Phần lớn là một nét chữ. Chữ của một người đàn ông được học chữ Nho từ nhỏ, viết bằng bút lông chấm mực tàu, nét đậm nét thanh rõ rệt, nét ngang bao giờ cũng có cái móc ở cuối như đuôi con chim. "Tai ngựa hồng, cỡ một thước hai." "Yên ngựa đen, cỡ tám tấc." "Mặt hình nhân nữ."

– Chữ ông mày đấy, – bà Tần nói. – Ngày xưa ông mày viết đẹp nhất làng. Đám ma đám cưới nào cũng mời ông mày viết câu đối.

Nhưng tới cái tập thứ tám, nét chữ đổi khác.

Những tấm rập trong tập ấy còn mới hơn, giấy trắng hơn, mép cắt sắc hơn. Chữ ghi trên đó không viết bằng bút lông. Viết bằng bút bi, nét tròn, hơi nghiêng sang phải, chữ "g" có một cái vòng khuyết nhỏ ở đuôi, chữ "Đ" có cái nét gạch ngang vắt quá ra ngoài. Những dòng ghi trong tập này không chỉ có tên bộ phận. Chúng giống những lời dặn.

"Bờm ngựa trắng, cắt răng cưa, mười một răng. Đừng cắt mười hai, mười hai thì bờm cứng."

"Chân sau trái bớt đi một li, cho ngựa đứng như đang bước."

"Mắt: vẽ cong xuống, có mi. Bố bảo không ai mua. Kệ."

Tôi ngồi im, tấm rập đặt trên đầu gối. Ngoài ngõ có tiếng ai gọi con về ăn cơm. Một con chuồn chuồn đậu trên sợi dây thép, đôi cánh trong suốt run run.

Chân sau trái bớt đi một li. Cái chân ngắn không phải là lỗi tay. Đó là cách làm. Một người đã nghĩ ra nó, đã viết nó ra, để không quên.

Ở góc dưới tấm rập cuối cùng của tập ấy, tấm rập hình cái yên, có một dòng chữ nhỏ hơn: "Đào làm, 1995."

– Bà ơi, – tôi nói, giọng tôi khàn. – Đây là chữ dì Đào hả bà?

Bà Tần đưa tay ra. Tôi đặt tấm rập vào tay bà. Bà cầm nó bằng cả hai tay, đưa lên gần mắt, rồi đưa ra xa, như người già vẫn làm khi không có kính. Một lúc lâu.

– Ừ. Chữ con Đào. – Bà đặt tấm rập xuống chiếu, rất nhẹ, như đặt một cái gì còn sống. – Nó chẳng chịu học chữ Nho với bố. Nó bảo bút bi viết nhanh hơn.

– Sao dì vẽ mắt ngựa nhắm hả bà?

Bà nhổ bã trầu, lau miệng. Tôi tưởng bà lại bảo "không có gì".

– Ở làng này, điểm mắt là việc của người đứng đầu xưởng. Ngựa nhà nào thì chủ nhà ấy điểm, điểm xong là ngựa đi được, mang ra đốt được. Con Đào lên bảy đã biết buộc khung, lên mười đã dán đẹp hơn người lớn. Nhưng bố nó không cho nó điểm mắt, con gái không được. – Bà cười, cái cười móm mém, lần đầu tiên tôi thấy bà cười. – Thế là nó vẽ mắt nhắm. Nó bảo: ngựa của con thì con không cho đi đâu cả.

Bà ngừng lại. Cái cười tắt dần trên mặt bà, như ngọn đèn bị vặn nhỏ bấc. Bà nhặt một tấm rập khác lên, lật đi lật lại, không nói thêm câu nào.

Tôi cần một chỗ không có ai nhìn. Tôi xin phép bà mang mấy tấm rập vào buồng cho khỏi nắng. Bà gật. Tôi đóng cửa buồng, kéo cái rương sơn then ra giữa làm bàn, trải tấm vải trắng lên. Tôi lấy cái hộp nhựa trong ba lô ra, mở, lấy con ngựa thứ hai, nhấc mép yên, rút mảnh lịch. Tôi đặt mảnh lịch cạnh tấm rập hình cái yên, đeo kính lúp lên.

Ở bảo tàng, người ta không bao giờ để một thợ phục chế tự kết luận về nét chữ. Có những chuyên gia riêng cho việc ấy, có máy, có phần mềm. Thứ tôi có là bảy năm nhìn chữ người khác dưới kính lúp. Và một điều cô Diệp dạy từ ngày đầu: người ta có thể tập cho chữ giống, nhưng không ai tập được cái chỗ ngòi bút dừng lại.

Tôi nhìn chữ "Đ" trong chữ "Đào". Nét gạch ngang vắt ra ngoài, kết thúc bằng một cái chấm hơi đậm, chỗ ngòi bút dừng lại ấn xuống trước khi nhấc lên. Tôi nhìn chữ "Đ" trong chữ "Đan". Nét gạch ngang vắt ra ngoài. Cái chấm hơi đậm ở cuối.

Tôi nhìn chữ "g" trong chữ "ngựa", trên tấm rập: vòng khuyết nhỏ ở đuôi, khép không kín, để hở một khe như con mắt hé. Tôi nhìn chữ "g" trong chữ "tháng", trên mảnh lịch. Vòng khuyết nhỏ. Khép không kín.

Chữ trên mảnh lịch run hơn, nét yếu hơn, như người viết không đủ sức ấn bút. Nhưng đó là cùng một bàn tay.

Tôi tháo kính lúp ra. Hai mắt tôi cay xè, có lẽ vì bụi trên gác.

– Lam ơi, ăn cơm!

Bà Tần gọi từ dưới bếp. Tôi cất mảnh lịch vào trong con ngựa, cất con ngựa vào hộp, cất hộp vào ba lô. Lúc đứng dậy, tôi làm rơi một tấm rập xuống nền gạch. Nó rơi úp mặt, và từ giữa hai lớp giấy bồi đã tách ra của nó, một thứ gì cứng hơn trượt ra ngoài. Một tấm ảnh.

Ảnh màu, cỡ bằng bàn tay, góc ảnh bị gặm mất một miếng, có lẽ là chuột. Ai đó đã giấu nó vào giữa hai lớp rập, hoặc nó lọt vào đó lúc người ta bồi giấy. Trong ảnh là hai cô gái đứng trước cửa một ngôi đình, sau lưng là cờ ngũ sắc, là những cái lọng che, là một đám đông mờ nhoè. Cô bên trái mặc áo sơ mi xanh, tóc tết, đứng thẳng, môi mím, mắt nhìn thẳng vào ống kính như người đang chụp ảnh căn cước. Tôi nhận ra mẹ, mẹ hồi hai mươi hai tuổi, gầy hơn, nhưng cái môi mím ấy thì mẹ giữ cả đời.

Cô bên phải mặc áo trắng, tóc xoã, đang cười. Không phải cười cho ảnh. Cười như vừa có ai nói một câu buồn cười ngay trước khi bấm máy, đầu hơi ngả về phía chị mình, một tay giơ lên định che miệng mà không kịp. Hai cô giống nhau như hai lần in của cùng một bản khắc, chỉ khác một chỗ: cô bên phải, khi cười, để lộ một chiếc răng khểnh bên trái, nhọn và trắng, chồm lên răng bên cạnh.

Mặt sau tấm ảnh có một dòng chữ bút bi, nét tròn, hơi nghiêng: "Hai chị em, hội làng 1994. Chị Mận không chịu cười."

Mẹ tôi không có răng khểnh. Hàm răng mẹ đều như hạt bắp, mẹ vẫn hay khoe như thế, bảo con gái mà răng đều là có phúc. Năm tôi mười một tuổi, chiếc răng khểnh bên trái của tôi mọc lên, chồm hẳn lên răng bên cạnh, mẹ nhìn nó rất lâu, không nói gì, rồi dẫn tôi đi nha sĩ. Nha sĩ bảo không sao, để vậy cũng duyên. Từ đó mẹ không nhắc tới nó nữa.

Tôi đưa đầu lưỡi chạm vào chiếc răng của mình. Nhọn. Chồm lên răng bên cạnh.

– Lam! Cơm nguội rồi!

Tôi đặt tấm ảnh vào trong hộp nhựa, cạnh con ngựa, đóng nắp lại.

Tôi đã biết mình đang nhìn vào cái gì từ lúc thấy chữ "Đ" vắt ra ngoài. Nhưng tôi vẫn để cho đầu mình nói ra thành lời, một lần, rõ ràng, như người ta đọc to số hiệu một hiện vật trước khi ghi vào sổ:

Chữ trên mảnh lịch là chữ của dì Đào.

— Hết chương 8 —

Mục lục Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

  1. 1Con ngựa thứ hai11 phút
  2. 2Làng phơi ngựa11 phút đọc
  3. 3Ngựa bị bịt mắt10 phút đọc
  4. 4Miếu Cô10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ có tên mẹ10 phút đọc
  6. 6Lá thư của mẹ10 phút đọc
  7. 7Tờ khai tử10 phút đọc
  8. 8Bộ rập trên gác xép10 phút đọc
  9. 9Ngày tôi ra đời10 phút đọc
  10. 10Lệ năm Bính Ngọ10 phút đọc
  11. 11Người đỡ đẻ xóm Đê10 phút đọc
  12. 12Bùn bến Cát10 phút đọc
  13. 13Chiếc dép đỏ10 phút đọc
  14. 14Mùng Một tháng Bảy10 phút đọc
  15. 15Những con ngựa trước cửa nhà cậu9 phút đọc
  16. 16Bài ru trong kho10 phút đọc
  17. 17Chìa khoá của bà10 phút đọc
  18. 18Người đàn bà ở bến Cát10 phút đọc
  19. 19Hộp sắt của dì12 phút đọc
  20. 20Lời bà Tần11 phút đọc
  21. 21Mưa ngâu11 phút đọc
  22. 22Người cưỡi10 phút đọc
  23. 23Lời bà Lý10 phút đọc
  24. 24Đoàn kiểm đếm dời ngày10 phút đọc
  25. 25Chiếc xe trên đê10 phút đọc
  26. 26Người chết trên giấy10 phút đọc
  27. 27Người làng nói10 phút đọc
  28. 28Chấm mực ở cằm11 phút đọc
  29. 29Đêm rằm10 phút đọc
  30. 30Kho cháy10 phút đọc
  31. 31Trước miếu Cô10 phút đọc
  32. 32Điểm mắt10 phút đọc
  33. 33Ông ngoại10 phút đọc
  34. 34Kết quả giám định10 phút đọc
  35. 35Tro của mẹ10 phút đọc
  36. 36Bến Cát12 phút đọc

Về truyện này

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →