Chương 3: Ngựa bị bịt mắt
Bà Tần không cho tôi cầm con ngựa vào nhà.
Tôi gọi bà lúc năm giờ sáng, giọng tôi chắc khác lắm, vì bà ra khỏi buồng nhanh hơn tôi tưởng một bà cụ tám mươi hai tuổi có thể đi. Bà không chống gậy. Bà nhìn con ngựa trên bậu cửa sổ, rồi nhìn hai bàn tay tôi, rồi chạy xuống bếp. Lúc quay lên, tay bà cầm một cái giẻ lau nồi đen sì. Bà dùng cái giẻ ấy chụp lấy con ngựa, như người ta chụp một con rắn, không để da tay mình chạm vào nó.
– Bà ơi, để con coi đã…
– Coi cái gì mà coi.
Bà đi thẳng xuống bếp. Bếp nhà cũ là một gian lợp rạ riêng sau nhà, kê ba hòn gạch làm kiềng, góc bếp chất rơm khô với cành nhãn. Bà nhét con ngựa vào giữa đống tro của bữa tối hôm qua, vơ một nắm rơm phủ lên, quẹt diêm. Que diêm thứ nhất tắt. Tay bà run. Que thứ hai bén.
Tôi đứng ở ngưỡng cửa bếp, nhìn ngọn lửa liếm lên cái bờm răng cưa. Giấy trắng quăn lại, đen đi từ mép vào, rồi bùng lên một tiếng rất khẽ. Mùi hồ cháy khét lẹt, chua và ngọt. Tôi lùi lại một bước, lưng chạm vào cột. Cả đời tôi sống với giấy, tôi biết giấy cháy nhanh tới mức nào. Một con ngựa làm mất cả đêm, cháy hết trong thời gian tôi thở được ba hơi.
Đừng đốt con ngựa. Câu của mẹ vang lên trong đầu tôi, rõ tới mức tôi tưởng mình vừa nói thành tiếng.
– Sao bà đốt nó? – tôi hỏi, khi trong bếp chỉ còn một nhúm tro xám và mấy cọng nan tre cháy dở.
Bà Tần ngồi xổm trước bếp, lấy que cời tro, dí cho tới khi không còn một mẩu giấy trắng nào.
– Nó đến đón đấy. – Bà nói nhỏ, không quay lại. – Con Mận về thì nó đến đón.
– Ai đến đón hả bà?
Bà đứng dậy, đầu gối kêu lục cục. Bà nhìn thẳng vào tôi, cái nhìn của người đang quyết định nói bao nhiêu thì đủ.
– Không được nói với ai chuyện này. Cả nhà thằng Lộc cũng không. Mày nghe chưa?
Tôi gật đầu. Tôi không biết vì sao tôi gật.
Tám giờ, tôi sang xưởng của cậu Lộc. Tôi cần thấy những con ngựa khác, những con ngựa bình thường, mở mắt, đứng dưới nắng, để tin rằng sáng nay không có gì lạ cả.
Xưởng là một khu nhà mái tôn rộng chừng bằng ba cái sân bóng chuyền, nền xi măng, quạt công nghiệp treo trên xà quay ầm ầm. Một bên là dãy máy cắt giấy, máy dập khuôn, mấy chồng đèn lồng giấy đã gấp dẹt đóng thùng. Một bên là chỗ làm mã kiểu cũ: những người đàn bà ngồi trên ghế nhựa thấp, xung quanh là nan tre, lạt giang, những nồi hồ nhôm to, những cuộn giấy màu. Bên ngoài, ra tới sân phơi, ngựa đứng thành hàng.
Người dẫn tôi đi là chị Nụ. Chị bốn mươi mốt tuổi, người tròn, má đỏ, đội cái mũ vải có tấm che gáy, nói nhanh như súng liên thanh, vừa nói vừa dán, tay không lúc nào ngừng.
– Cô Lam đấy à? Cả làng biết cô về từ hôm qua rồi. Cô giống bà Mận lắm, à không, giống… – chị ngừng một tí, quét một vệt hồ thật dài. – Thôi, giống người nhà là được. Cô ngồi đây, chị chỉ cho mà xem.
Chị chỉ tôi cách vót nan, nan làm chân phải dày hơn nan làm bụng. Chỉ cách buộc lạt chéo ở khớp gối cho ngựa đứng không xiêu. Chỉ cách nấu hồ, bột sắn khuấy với nước lã cho tan rồi mới đổ vào nồi nước sôi, khuấy đều tay tới khi hồ trong như thạch. Tôi để ý chị buộc lạt một vòng rồi cắt, đầu lạt thò ra. Những người khác cũng vậy. Ở Phù Mã, có lẽ chỉ có một người thắt hai vòng rồi giắt đầu lạt vào trong.
– Mùa này một ngày chị được ba trăm, – chị Nụ nói. – Ngựa to thì một ngày ba con. Ra rằm là hết. Mà năm nay làm cũng phải xem ngày, năm Bính mà.
– Năm Bính thì sao chị?
Chị Nụ nhìn quanh. Mấy người đàn bà ngồi gần cũng chậm tay lại, như cùng chờ xem chị có dám nói không. Chị hạ giọng, nhưng cái giọng hạ của chị vẫn đủ cho cả dãy nghe.
– Năm Bính lửa đòi. Ở làng này ai cũng biết. Cứ năm nào có chữ Bính, tháng Bảy là làng mất người. Mà trước khi mất bao giờ cũng có ngựa trắng nhắm mắt đến cửa. Ngựa trắng nhắm mắt đến cửa nhà ai thì nhà ấy đi một người.
– Chị thấy bao giờ chưa?
– Chị thì chưa. – Chị Nụ cắt một sợi lạt bằng răng. – Nhưng mười năm trước, năm Bính Thân, ông Tường nhà họ Phí chết đúng đêm rằm, người ta bảo sáng hôm trước có con ngựa ở miếu. Năm Bính Tuất thì anh Lực đi xe máy đâm xuống chân đê. Năm Bính Tý là bà Đào nhà cô đấy. Trước nữa thì chị không nhớ, phải hỏi ông từ. Năm nay lại là Bính Ngọ, đúng sáu mươi năm từ cái năm Bính Ngọ trước. Các cụ bảo năm nay đòi to.
Một người đàn bà ngồi đối diện, mặt gầy, khẽ nói "Thôi đi bà Nụ", và chị Nụ thôi. Cả dãy lại cắm cúi làm. Tôi ngồi đó, tay cầm một nan tre, nghĩ tới con ngựa vừa cháy trong bếp nhà bà Tần, nghĩ tới chữ "đón".
Gần chín giờ thì có tiếng xôn xao ngoài sân phơi.
Một con ngựa trắng cao ngang vai người đứng ở đầu hàng, đã xong hết, yên cương dát giấy trang kim, chỉ chờ chiều nay xe đến chở đi. Hàng đặt riêng của một nhà ở bên Hà Nội, chị Nụ bảo, giá bốn trăm rưỡi. Chiều qua cậu Lộc tự tay điểm mắt cho nó. Sáng nay, trên hai con mắt to tròn ấy, có ai đã dán hai mảnh giấy trắng hình lá lúa, khít khao, phẳng phiu, che kín từ mí trên xuống mí dưới. Từ xa nhìn lại, con ngựa như đang nhắm mắt.
Mấy người thợ đứng quanh, không ai lại gần. Một chị lẩm nhẩm khấn. Chị Nụ thì đứng sau lưng tôi, nắm chặt vai áo tôi.
Tôi bước tới. Tôi không chạm vào. Tôi cúi sát, nhìn mép hai mảnh giấy. Giấy bản, loại giấy lót, cắt bằng kéo, không phải bằng dao. Hồ dán là hồ sắn, nhưng màu đục hơn hồ trong mấy cái nồi ngoài xưởng, và khi tôi ngửi, nó chua gắt, mùi của hồ nấu từ mấy hôm trước rồi để lâu trong lọ. Ở xưởng này, hồ nấu buổi sáng thì dùng hết buổi sáng.
– Gì mà đứng cả ra đây thế?
Cậu Lộc đi từ trong nhà ra, áo sơ mi đã thay bằng áo phông, tay cầm cốc cà phê. Anh ta nhìn con ngựa, nhìn đám thợ, rồi bật cười. Tiếng cười to và thoải mái tới mức mấy người thợ thở phào theo.
– Bọn trẻ con xóm này nghịch. Năm nào chả có đứa nghịch. – Anh ta đưa cốc cà phê cho chị Nụ cầm, rồi đưa tay bóc mảnh giấy bên trái. Mảnh giấy dính chặt, kéo theo cả một mảng giấy trắng của mắt ngựa. – Thôi xong. Chị Nụ, lấy giấy dán lại cho em chỗ này, rồi gọi thằng Tú xuống điểm mắt lại. Chiều xe đến rồi.
– Trẻ con nào mà nấu hồ cậu? – tôi hỏi.
Anh ta quay sang tôi. Một giây rất ngắn, cái cười trên mặt anh ta đứng lại, như người đang đi bị vấp nhưng chưa ngã.
– Trẻ con làng này đứa nào chả biết nấu hồ, cháu. Lớn lên giữa đống giấy mà. – Anh ta cười tiếp, vỗ vai tôi. – Cháu đừng để mấy bà này dọa. Cậu sống ở đây bốn mươi tám năm, chưa thấy con ma nào.
Anh ta quay vào nhà. Tôi nhìn theo lưng anh ta, rồi nhìn xuống bàn tay mình, chỗ đầu ngón tay sáng nay đã chạm vào thứ hồ còn ướt trên bụng con ngựa bên cửa sổ. Hồ ấy cũng chua gắt như vậy.
Chiều, tôi được gặp ông ngoại.
Ông nằm trong một căn phòng ở tầng một nhà cậu Lộc. Phòng rộng, có cửa sổ trông ra sân xưởng, có cái giường bệnh viện tay quay, có cây treo bình nước, có mùi dầu gió với mùi thuốc bắc sắc. Mợ Thoa dẫn tôi vào, rồi đứng luôn ở góc phòng, tay cầm cái quạt nan, không có ý định đi ra.
Ông ngoại gầy tới mức tấm chăn mỏng đắp trên người ông gần như phẳng. Tóc ông bạc trắng, cắt ngắn sát da đầu. Nửa mặt bên phải xệ xuống, khoé miệng bên ấy hơi trễ, bàn tay phải nằm co trên chăn như một chùm rễ khô. Nhưng đôi mắt ông thì mở. Mắt người già thường đục, mắt ông lại sáng, sáng một cách khó chịu, như mắt con chim bị nhốt.
Ông nhìn tôi lúc tôi bước tới bên giường. Môi ông mấp máy.
– Đào… – ông nói. Tiếng ông rè, đứt quãng, như phát ra từ cái loa cũ. – Đào đấy à? Mày về rồi à.
– Dạ không, ông ơi. Con là Lam. Con của mẹ Mận.
Ông không nghe. Hoặc ông nghe mà không tin. Bàn tay trái của ông, bàn tay còn cử động được, nhích lên khỏi chăn, run run hướng về phía tôi.
– Nước có lạnh không con? – ông hỏi. – Nước có lạnh không?
– Ông lẫn đấy, – mợ Thoa nói từ góc phòng, giọng đều. – Lúc nào cũng thế. Cô đừng để ý.
Tôi ngồi xuống cái ghế nhựa cạnh giường. Tôi không biết phải nói gì với một ông già tám mươi sáu tuổi đang hỏi một người chết đuối ba mươi năm rằng nước có lạnh không. Tôi kể cho ông nghe về mẹ. Mẹ ở Sài Gòn mở tiệm may, mẹ nuôi con khôn lớn, con đi học, đi làm, con làm nghề sửa giấy cũ. Ông nhìn tôi suốt lúc tôi kể, không chớp mắt. Tới khi tôi nói mẹ con mất tháng Ba, mặt ông co lại một cái, như người bị kim châm.
Rồi đột nhiên, mắt ông thay đổi. Tôi không biết tả thế nào. Như một tấm kính mờ vừa được ai lau. Ông nhìn tôi, và lần này ông thấy tôi.
– Lam. – Ông nói chậm, rõ hơn hẳn. – Con Lam. Mày về đúng năm.
– Dạ, con về thăm ông.
Ông quay đầu, nhìn mợ Thoa ở góc phòng.
– Ra ngoài.
– Anh Lộc dặn con phải ở đây với ông.
– Tao bảo ra ngoài! – Ông gắt. Tiếng gắt méo mó, nửa chữ đầu bị cái miệng xệ nuốt mất. Một giọt nước dãi chảy xuống cằm ông. Mợ Thoa không nhúc nhích, chỉ quạt nhanh hơn.
Ông nhìn mợ một lúc lâu, rồi thôi. Ông nhắm mắt lại, thở. Tôi tưởng ông ngủ. Tôi định đứng dậy thì bàn tay trái của ông chộp lấy cổ tay tôi.
Ông nắm mạnh. Mạnh không kém gì mẹ tôi đêm cuối trong bệnh viện. Những ngón tay khô, lạnh, siết vào xương cổ tay tôi. Ông kéo tôi cúi sát xuống, sát tới mức tôi ngửi thấy hơi thở chua mùi thuốc của ông, và ông thì thầm vào tai tôi, mỗi chữ một hơi:
– Đừng. Mở. Mắt. Nó.
— Hết chương 3 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe