AI Truyện
Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

🕯️ Truyện ma kinh dị

Tro của mẹ

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã · Chương 35/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 35: Tro của mẹ

– Dạ, – tôi nói. – Mẹ con về.

Dì Đào gật đầu. Dì đứng dậy, đi tới bên vách, nhìn quyển lịch bloc của dì, rồi nhìn tôi, như muốn hỏi bao giờ. Tôi lấy cây bút bi trong túi đồ nghề, đếm từng tờ lịch, tới tờ ngày hai mươi tư tháng Chín, mười bốn tháng Tám âm lịch, và vẽ lên góc tờ ấy một con ngựa nhỏ. Bốn cái chân, cái bờm, hai con mắt mở. Dì nhìn con ngựa tôi vẽ rất lâu. Rồi dì đặt ngón tay lên đó, như đánh dấu.

Sài Gòn tháng Chín mưa chiều nào cũng như chiều nào.

Căn hộ tầng mười hai của tôi có mùi bụi và mùi ẩm. Chậu xương rồng ngoài ban công đã khô quắt. Cái bàn làm việc vẫn còn tấm kính, cái đèn bàn, cái nhíp, đúng như đêm tôi đặt hai con ngựa nhắm mắt cạnh nhau, hơn một tháng trước. Tôi ngồi xuống ghế, không bật đèn, ngồi như thế tới khi trời tối hẳn.

Sáng hôm sau tôi lên chùa. Ngôi chùa nhỏ trong một con hẻm ở Gò Vấp, cách cái tiệm sửa quần áo cũ của mẹ hai con đường. Sư cô trụ trì dẫn tôi vào căn phòng phía sau chánh điện, nơi những hũ tro xếp trên các kệ gỗ, mỗi hũ một tấm ảnh nhỏ. Hũ của mẹ tôi là một cái hũ sứ trắng, nắp có núm tròn, tấm ảnh dán bên ngoài là ảnh căn cước, mẹ mím môi. Mẹ không bao giờ chịu cười khi chụp ảnh.

Tôi ôm cái hũ vào lòng. Nó nặng hơn tôi tưởng, và ấm, vì nắng buổi sáng đã chiếu qua ô cửa vào kệ.

Chiều, tôi đi ngang qua tiệm cũ. Chủ nhà đã cho người khác thuê. Giờ nó là một tiệm sửa điện thoại, bảng hiệu đèn chớp xanh đỏ, cái tủ kính bày đầy ốp lưng. Không còn cái máy may, không còn những cái quần tây khách gửi lai rồi không bao giờ quay lại lấy. Tôi đứng bên kia hẻm một lúc. Một đứa bé con nhà bên cạnh đang cầm cái lồng đèn ông sao chạy qua chạy lại, chưa tới rằm đã đòi thắp.

Cái máy may của mẹ, tôi đã mang về căn hộ từ hồi dọn tiệm, giờ vẫn nằm dưới tấm vải phủ trong góc phòng khách. Đêm ấy tôi tháo nó ra, lau dầu, bọc kỹ từng bộ phận, đóng thùng các-tông, gửi xe chở hàng ra Bắc. Tôi không biết vì sao. Tôi chỉ biết tôi không muốn nó nằm lại một mình trong căn phòng có mùi ẩm.

Lúc tháo cái ngăn kéo nhỏ dưới mặt máy, tôi thấy một xấp giấy báo cũ gấp nếp, nhét chặt tới mức cái ngăn kéo mấy tháng nay tôi không kéo ra được. Tôi gỡ từng tờ. Không phải giấy báo gói đồ. Là những con vật gấp dở. Mười mấy con, có lẽ hai chục, gấp bằng giấy báo, giấy lịch, giấy gói xôi, giống hệt thứ giấy mẹ vẫn gấp cho tôi con cò, con ếch, con voi hồi nhỏ. Con nào cũng có bốn cái chân, một cái lưng cong, một cái đuôi. Con nào cũng chưa có đầu. Tới chỗ cái cổ thì nếp gấp dừng lại, mép giấy vuốt phẳng, như người gấp đã ngồi nhìn nó rất lâu rồi đặt xuống.

Ngựa khó lắm, mẹ gấp cho con con hươu nghen.

Tôi ngồi trên sàn nhà, giữa đống thùng các-tông, xếp hai chục con ngựa không đầu thành một hàng dài trên nền gạch. Có con giấy đã vàng sậm như mảnh lịch của dì. Có con giấy còn trắng, góc tờ lịch in năm hai nghìn hai mươi lăm. Hai mươi chín năm, mẹ đã ngồi gấp một con ngựa, rồi dừng lại ở cái cổ. Hai mươi chín năm, mẹ không gấp nổi cái đầu nó.

Tôi chọn con mới nhất, con có góc lịch năm ngoái, gói vào giấy lụa, cho vào ba lô.

Tôi đi gặp anh Vĩnh, gặp giám đốc. Tôi nói những gì tôi phải nói. Cô Diệp ngồi cạnh tôi suốt buổi ấy, tay đặt lên tay tôi dưới gầm bàn. Ra khỏi phòng giám đốc, cô không hỏi tôi đã quyết thế nào. Cô chỉ đưa cho tôi một gói giấy Nhật mỏng, loại tốt nhất trong kho của phòng, buộc dây gai.

– Cho cái hòm rập, – cô nói.

Ngày hai mươi tư tháng Chín, tôi bay ra Hà Nội, ôm cái hũ sứ trắng trên đùi suốt hai tiếng.

Ông Thạc đón tôi ở cửa ga đến, đúng cái cột thứ ba ngoài cửa kính nơi cậu Lộc đã đứng chờ tôi gần hai tháng trước. Ông mặc một cái áo sơ mi mới mua, còn nếp gấp, cổ cài kín cúc, trông như người đi ăn cưới. Ông không có xe. Ông đi xe khách từ tỉnh lên, đứng chờ từ sáng. Ông nhìn cái hũ trên tay tôi, rồi giơ hai tay ra, như định đỡ lấy, rồi lại hạ xuống.

– Để con ôm, ba, – tôi nói.

Ông gật đầu, cầm lấy cái va-li.

Sáng rằm tháng Tám, trời trong như nước giếng. Lúa mùa trên cánh đồng sau làng đang ngậm sữa, xanh ngả vàng. Gò mộ họ Nghiêm đứng giữa đồng như một hòn đảo nhỏ.

Người đến không đông. Bà Tần, chống gậy, có mợ Thoa dìu. Ông Thạc. Ông từ Nhự, áo the đen, cầm theo cuốn sách khấn. Hai người thợ xây trong làng, mang theo búa, đục, xẻng. Chị Nụ, không ai mời, tự đến, đứng ở mép gò, cái mũ vải cầm trong tay. Cậu Lộc đứng xa hơn tất cả, ở bờ ruộng dưới chân gò, không lên. Tú ở Hà Nội, gọi về từ sáng sớm, bảo chiều nó về kịp rước đèn.

Và dì Đào.

Dì mặc bộ áo cánh trắng mới mợ Thoa mua, đi đôi dép nhựa mới mợ Thoa mua hộ ở chợ phiên, màu nâu, không phải màu đỏ. Dì đứng trước ngôi mộ gió có tên mình, nhìn tấm bia đá xanh, chữ khắc sâu, tô sơn đỏ đã bong.

"Nghiêm Thị Đào. Sinh năm Ất Mão 1975. Mất rằm tháng Bảy năm Bính Tý."

Dì đưa ngón tay lên, chạm vào chữ "Đ" trong chữ "Đào". Dì lần theo cái nét gạch ngang, theo đường người thợ khắc đã đục vào đá ba mươi năm trước. Rồi dì quay sang nhìn tôi. Tôi không biết dì có đọc được chữ ấy không. Tôi không biết dì có hiểu đó là tên mình, khắc trên đá, ở chỗ người ta chôn người chết, không.

Ông từ Nhự khấn. Ông khấn bằng giọng của người đã khấn rất nhiều đám, nhưng hôm nay ông khấn chậm hơn, từng câu một. Ông xin thổ thần, xin tổ tiên họ Nghiêm cho dỡ ngôi mộ không có người, vì người tên trên bia vẫn còn sống, đang đứng đây. Ông nói câu ấy hai lần.

Trước khi thợ xây đặt đục vào chân bia, dì Đào làm một việc không ai bảo.

Dì cúi xuống cái bát hương sành trước mộ gió của mình. Trong bát còn ba chân nhang mới, ông Thạc thắp từ sáng sớm theo thói quen ba mươi năm. Dì rút từng chân nhang ra khỏi bát, nhẹ, như rút những cái nan khỏi một khung ngựa hỏng. Rồi dì quay sang, đi ba bước, tới trước ngôi mộ mới sát bên, ngôi mộ ốp gạch men trắng, bia khắc "Nghiêm Thị Mận. 1972 – 2026." Dì cắm ba chân nhang vào cái bát hương còn trống trơn của mộ mẹ tôi.

Không ai nói gì. Bà Tần đưa tay lên che miệng. Chị Nụ quay mặt đi.

Thợ xây dỡ tấm bia. Họ không phá ngôi mộ ngay. Ông từ Nhự bảo để qua mùa lúa rồi san cho phẳng, trả lại đất cho ruộng. Tấm bia đá xanh được khiêng xuống, đặt nằm ngửa trên bờ ruộng. Cậu Lộc vẫn đứng dưới bờ ruộng, không lên.

Ông Thạc nhặt cái lược nhựa hồng vẫn nằm trên mặt mộ, cái lược cuối cùng ông để đó từ hôm tôi về, chưa mất, vì người ta không còn đi đêm ra lấy nữa. Ông cất nó vào túi áo.

Rồi tới mẹ tôi.

Thợ xây nhấc cái nắp đá vuông vức của hộc tro. Lòng hộc khô, sạch, có ai đã quét từ trước. Tôi quỳ xuống. Tôi đặt cái hũ sứ trắng vào đó, xoay cho tấm ảnh căn cước của mẹ quay ra phía đầu mộ, phía ngôi mộ gió đã không còn bia.

Rồi tôi mở ba lô, lấy cái hộp bánh sắt của mẹ ra.

Trong hộp, trên lớp giấy lụa, là con ngựa trắng nhắm mắt dì Đào đặt trên bậu cửa sổ của tôi rạng sáng mười một tháng Tám, cạnh chiếc dép đỏ bên trái. Con ngựa ấy tôi đã giữ suốt từ hôm đó, chưa ai đốt, chưa ai mở. Trong bụng nó chắc cũng có một thằng bé áo trắng dải đỏ nằm ngủ trên một viên sỏi. Tôi không mở. Người chị từng cõng thằng bé ấy đi học qua hai cây số đường đê lầy, giờ để nó ngủ cạnh chị.

Mẹ dặn tôi: đừng đốt con ngựa.

Tôi đặt nó vào trong hộc, cạnh cái hũ sứ trắng. Nó đứng hơi nghiêng, vì cái chân sau bên trái ngắn hơn một li. Hai mắt nó nhắm, như đang ngủ cạnh mẹ tôi.

Thợ xây đặt nắp đá xuống. Trát vữa. Tôi đứng dậy, phủi đầu gối.

Mẹ dặn tôi: đưa mẹ về với dì.

– Mẹ ơi, – tôi nói, không to, chỉ đủ cho mình nghe. – Con đưa mẹ về với dì rồi.

Dì Đào đứng cạnh tôi. Dì không nhìn ngôi mộ. Dì nhìn tôi. Rồi dì đặt bàn tay gầy lên tấm bia đá có tên mẹ tôi, đặt lâu, như người ta đặt tay lên vai một người vừa đi xa về.

– Chị Mận, – dì nói.

Nắng lên cao, rọi xuống tấm bia, chữ khắc trên đá sáng lên. Đá đã ấm dưới tay dì.

Lúc mọi người đã xuống khỏi gò, đi dọc bờ ruộng về làng, tôi ngoái lại. Cậu Lộc đã lên. Anh ta quỳ một mình trước ngôi mộ mới, hai bàn tay còn quấn băng mỏng đặt trên đầu gối, đầu cúi xuống. Người chị đã cõng anh ta hai cây số đường đê lầy đi học, những ngày mưa. Tôi không quay lại. Tôi để anh ta quỳ ở đó.

Tối rằm tháng Tám, trẻ con làng Phù Mã rước đèn dọc mặt đê. Đèn ông sao, đèn cá chép, đèn kéo quân bằng giấy bóng kính đủ màu, và năm nay có thêm mấy chục cái đèn lồng giấy trắng của xưởng nhà cậu Lộc. Mợ Thoa đem phát cho trẻ con cả xóm, những cái đèn đã làm xong mà không còn khách nào đặt. Tú về kịp, cầm một cái đèn ông sao, đi giữa đám trẻ con thấp hơn nó cả cái đầu.

Dì Đào ngồi trên bậc thềm nhà cũ, nhìn đoàn đèn đi qua đầu ngõ. Ông Thạc ngồi cạnh dì. Tôi ngồi cạnh bà Tần trên chõng. Trăng rằm lên từ phía sông, tròn, trong, không đỏ như trăng tháng Bảy.

Bà Tần nhai trầu, nhìn trăng. Rồi bà nói, không quay sang tôi:

– Vé máy bay của mày ngày nào?

– Dạ, ba mươi tháng này.

Bà nhổ bã trầu vào cái ống nhổ dưới chân chõng, lau miệng bằng vạt khăn.

– Thế mày đi hay ở?

— Hết chương 35 —

Mục lục Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

  1. 1Con ngựa thứ hai11 phút
  2. 2Làng phơi ngựa11 phút đọc
  3. 3Ngựa bị bịt mắt10 phút đọc
  4. 4Miếu Cô10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ có tên mẹ10 phút đọc
  6. 6Lá thư của mẹ10 phút đọc
  7. 7Tờ khai tử10 phút đọc
  8. 8Bộ rập trên gác xép10 phút đọc
  9. 9Ngày tôi ra đời10 phút đọc
  10. 10Lệ năm Bính Ngọ10 phút đọc
  11. 11Người đỡ đẻ xóm Đê10 phút đọc
  12. 12Bùn bến Cát10 phút đọc
  13. 13Chiếc dép đỏ10 phút đọc
  14. 14Mùng Một tháng Bảy10 phút đọc
  15. 15Những con ngựa trước cửa nhà cậu9 phút đọc
  16. 16Bài ru trong kho10 phút đọc
  17. 17Chìa khoá của bà10 phút đọc
  18. 18Người đàn bà ở bến Cát10 phút đọc
  19. 19Hộp sắt của dì12 phút đọc
  20. 20Lời bà Tần11 phút đọc
  21. 21Mưa ngâu11 phút đọc
  22. 22Người cưỡi10 phút đọc
  23. 23Lời bà Lý10 phút đọc
  24. 24Đoàn kiểm đếm dời ngày10 phút đọc
  25. 25Chiếc xe trên đê10 phút đọc
  26. 26Người chết trên giấy10 phút đọc
  27. 27Người làng nói10 phút đọc
  28. 28Chấm mực ở cằm11 phút đọc
  29. 29Đêm rằm10 phút đọc
  30. 30Kho cháy10 phút đọc
  31. 31Trước miếu Cô10 phút đọc
  32. 32Điểm mắt10 phút đọc
  33. 33Ông ngoại10 phút đọc
  34. 34Kết quả giám định10 phút đọc
  35. 35Tro của mẹ10 phút đọc
  36. 36Bến Cát12 phút đọc

Về truyện này

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →