AI Truyện
Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

🕯️ Truyện ma kinh dị

Chiếc dép đỏ

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã · Chương 13/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 13: Chiếc dép đỏ

Lều của ông Thạc dựng trên bốn cái cột tre cao quá đầu người, ở mép bãi, cách bến Cát chừng nửa cây số ngược lên. Mùa lũ, nước liếm tới chân cột thứ hai. Leo lên bằng một cái thang tre chín bậc. Trên sàn lều chỉ đủ chỗ cho một cái chiếu, một cái bếp dầu, một chồng lưới vó, mấy cái can nhựa, một vò rượu, và một cái giá gỗ đóng vào vách. Trên giá có một cái hộp sắt han gỉ.

Ông treo một cái đèn bão lên xà, vặn bấc to lên. Ánh sáng vàng đục, khói đèn bay lên đen mái lá. Ông ném cho tôi một cái khăn mặt cũ và một chiếc áo lính đã bạc màu, chỉ cái can nước ở góc lều.

– Rửa đi. Bùn bãi khô lại thì ngứa cả tuần.

Rồi ông quay lưng, ngồi xổm trước cái bếp dầu, đun nước. Tôi rửa mặt, rửa tay, thay cái áo dài tay đã ướt sũng bùn bằng chiếc áo lính của ông. Nó rộng thùng thình, mùi khói thuốc lào và mùi nắng. Chân tôi vẫn còn bùn tới đùi. Tôi không làm gì được với nó, nên tôi ngồi xuống mép chiếu, ôm gối.

Ông rót nước vào hai cái chén mẻ miệng, thả vào mỗi chén một nhúm chè khô, đặt một chén trước mặt tôi. Rồi ông rót cho mình một chén rượu từ cái vò, uống một hơi, rót thêm một chén nữa.

– Chú thấy con từ lúc nào? – tôi hỏi.

– Từ lúc cô xuống dốc đê. – Ông không nhìn tôi. – Tôi ngồi trên cái chòi trông ngô ở đầu bãi. Thấy có người đi theo cô ấy thì tôi đi theo người ấy.

– Chú cũng thấy cô ấy?

Ông Thạc uống chén rượu thứ hai. Rồi ông đặt cái chén xuống sàn, xoay nó một vòng giữa mấy ngón tay.

– Ba mươi năm rồi, – ông nói. – Năm nào cũng thấy. Rằm tháng Bảy, có khi trước rằm, có khi sau. Lúc đầu thì một năm một lần, hai lần. Mấy năm nay thì nhiều hơn. Năm nay thì gần như đêm nào cũng thấy. Bao giờ cũng ở bến Cát. Bao giờ cũng áo trắng. Bao giờ cũng đứng ở bậc cuối, nhìn ra sông, như chờ ai.

– Chú có lại gần không?

– Không. – Ông nhìn ra khoảng tối ngoài cửa lều. – Lần đầu tiên tôi thấy, năm chín bảy, tôi chạy lại. Chạy như thằng điên, gọi tên cô ấy. Cô ấy chạy mất. Từ đấy tôi không lại gần nữa. Tôi sợ lại gần thì cô ấy đi luôn, không về nữa. Tôi chỉ ngồi xa xa mà nhìn.

Tôi nhìn ông. Một người đàn ông năm mươi tư tuổi, ba mươi năm ngồi xa xa nhìn một hồn ma. Tôi nghĩ tới chùm nhãn trên mộ gió, cái lược nhựa màu hồng.

– Nhãn với lược trên mộ là của chú?

Ông gật đầu.

– Tôi để cả ở bến Cát nữa. Trên bậc trên cùng. Sáng ra là mất. – Ông cười, một cái cười làm khuôn mặt đen sạm của ông méo đi. – Người ta bảo tôi điên. Thì điên. Có ai lại đi để lược cho người chết.

– Ông từ nói ngày xưa chú với dì con…

– Ông từ nói nhiều.

Ông đứng dậy, với tay lên cái giá gỗ, lấy cái hộp sắt xuống. Hộp bánh quy, giống hệt cái hộp mẹ tôi dùng để giấu con ngựa, chỉ khác là hình in trên nắp đã gỉ gần hết, chỉ còn thấy một góc váy đỏ. Ông đặt nó lên chiếu giữa hai chúng tôi, nhưng chưa mở.

Rồi ông kể.

Ông kể chậm, đứt quãng, như người lâu lắm không nói một câu dài. Hội làng năm chín tư, ông hai mươi hai tuổi, đi chèo thuyền đua, dì Đào mười chín, đứng trên bờ cổ vũ cho xóm Trong, xóm đối thủ. Thuyền xóm ông thắng. Dì Đào ném một quả nhãn trúng đầu ông, cười, cái răng khểnh nhọn hoắt. Từ đấy hai người lén gặp nhau. Ở bãi, ở bến Cát, ở cái kho phơi mã nhà ông Khang giữa rặng chuối, nơi mùa hè không ai ra.

– Nhà tôi với nhà cô ấy không nhìn mặt nhau, – ông nói. – Từ cái năm chú Hoè tôi chết đuối. Ông Khang bảo nhà họ Phí nợ nước, ai lấy người họ Phí là sông nó bắt. Bố tôi thì bảo nhà họ Nghiêm có ngựa nhắm mắt, gần là chết. Hai ông già chửi nhau ngoài chợ. Chúng tôi thì yêu nhau trong kho mã.

Ông rót thêm rượu. Lần này ông không uống, chỉ cầm chén.

– Tháng Sáu năm chín sáu, cô ấy bảo tôi là có rồi.

Tôi không nói gì. Tôi không dám nói gì.

– Ba tháng. – Ông nhìn chén rượu. – Đầu tháng Bảy thì ông Khang biết. Không biết ai nói. Ông nhốt cô ấy trong buồng, mời người dưới Nam Định lên xem mặt. Một ông goá vợ, bốn mươi tuổi, có hai đứa con. Ông định cưới chạy cho kịp trước khi cái bụng lộ ra.

Chúng tôi hẹn nhau đêm rằm, ông kể tiếp. Cả làng ra miếu Cô, ông Khang phải đứng làm lễ, không ai trông dì. Lệ làng, đêm rằm trai tráng phải chèo thuyền chở lễ ra giữa sông thả đèn, ông là một trong bốn người chèo, không trốn được, trốn là cả làng biết. Nên ông bảo dì cứ lẻn ra bến Cát chờ. Thả đèn xong, khoảng chín rưỡi, ông sẽ chèo xuôi xuống đón, rồi hai đứa sang sông, lên nhà một bà cô của ông ở tận trên Thái Nguyên, sinh con ở đấy, rồi tính.

– Tôi tới bến Cát lúc gần mười giờ, – ông nói. – Không có ai.

Ông mở nắp cái hộp sắt.

Bên trong, nằm trên một lớp giấy báo đã vàng như lá chuối khô, là một chiếc dép. Dép quai hậu bằng nhựa, màu đỏ, loại dép con gái nhà quê hay đi những năm chín mươi. Màu đỏ đã bạc thành màu hồng đất. Chiếc bên phải. Cái quai hậu bị đứt một bên, có người đã khâu lại bằng chỉ đen, mũi khâu to và vụng.

– Tôi khâu đấy, – ông nói, thấy tôi nhìn. – Mùa xuân năm ấy cô ấy giẫm đứt quai chiếc này, bảo tôi mang về khâu. Tôi khâu vụng, cô ấy chê mãi mà vẫn đi. Thế là cô ấy đi một chiếc lành, một chiếc khâu.

– Một chiếc. Trên bậc thứ ba. – Ông đặt ngón tay cụt lên mép hộp. – Tôi gọi suốt đêm. Tôi lội xuống tận chỗ nước ngang ngực. Sáng ra người ta tìm thấy tôi ngồi trên bậc bến, ôm chiếc dép. Ông Khang bảo tôi giết con ông ấy. Công an xã hỏi tôi ba ngày. Người làng thì bảo tôi rủ cô ấy bỏ đi, sông nó bắt cho chừa.

– Chú có giết dì con không?

Tôi không biết tại sao tôi hỏi. Có lẽ vì tôi cần nghe ai đó trả lời câu ấy bằng giọng thật.

Ông Thạc ngẩng lên nhìn tôi. Lần đầu tiên từ lúc lên lều, ông nhìn thẳng vào mặt tôi. Mắt ông đỏ, không biết vì rượu hay vì khói đèn.

– Tôi đến muộn, – ông nói. – Tôi đến muộn nửa tiếng. Thế có tính là giết không?

Ngoài lều, gió đổi chiều, thổi mạnh, cái đèn bão chao một cái, bóng hai chúng tôi trên vách lá chao theo. Dưới kia, nước sông vẫn chảy ào ào.

– Đứa bé, – tôi nói, cổ họng khô khốc. – Chú có biết đứa bé thế nào không?

– Đứa bé nào?

– Đứa bé trong bụng dì con.

Ông Thạc nhìn tôi như tôi vừa hỏi một câu ngớ ngẩn nhất trên đời.

– Thì nó đi theo mẹ nó, – ông nói. – Sông Hồng mùa lũ, cô ạ. Nó cuốn cả trâu.

Tôi gật đầu. Tôi không nói gì nữa. Tôi nhìn khuôn mặt ông dưới ánh đèn bão: cái trán dô, cái mũi thấp, hai lông mày rậm gần chạm vào nhau ở giữa. Tôi đã nhìn khuôn mặt mình trong gương mỗi sáng hai mươi chín năm, và tôi vẫn hay ghét hai hàng lông mày ấy, rậm và gần nhau như thế, mẹ tôi thì lông mày lá liễu. Tôi đưa tay lên, chạm vào chỗ giữa hai lông mày mình. Ông Thạc không để ý. Ông đang đậy nắp cái hộp sắt, rất chậm, như đậy nắp một cái quan tài nhỏ.

Tôi không nói với ông. Tôi không nói về mảnh lịch, không nói về ngày mười hai tháng Chạp, không nói về một đứa bé không đi theo mẹ nó. Tôi không biết nói với ông bằng cách nào. Và một phần trong tôi, phần tôi không thích, đang ngồi đếm. Một người đàn ông uống rượu một mình giữa bãi, bị cả làng nghi giết người, ba mươi năm không vợ không con, đêm nào cũng rình ở bến Cát. Tôi chưa biết gì về ông ngoài những gì ông vừa kể.

Bốn giờ rưỡi, trời bắt đầu xám. Ông Thạc đưa tôi về tới chỗ con dốc đê, đi trước, cầm cây sào tre gạt ngô, không nói câu nào. Tới chân dốc, ông dừng lại.

– Đừng ra bãi nữa, – ông nói. – Lần sau tôi không ngồi ở chòi thì không ai kéo cô lên đâu.

– Dạ.

– Cô giống cô ấy lắm, – ông nói thêm, không nhìn tôi. – Lúc nãy rọi đèn vào mặt cô, tôi tưởng…

Ông không nói hết. Ông quay đi, vác cây sào, đi ngược vào bãi, cái lưng gầy khuất dần sau những cây ngô ướt sương.

Tôi leo lên đê. Đứng trên mặt đê nhìn xuống, giữa rặng chuối xa xa về phía bến Cát, cái khối vuông sẫm màu tôi thấy đêm qua giờ đã hiện ra rõ hơn trong trời xám. Một mái ngói cũ, rêu phủ, nằm lọt thỏm giữa những tàu lá như một con vật đang ngủ. Tôi nhìn nó một lúc rồi đi về. Xóm còn ngủ. Một con chó ở đầu ngõ ngẩng lên nhìn tôi, rồi lại gục đầu xuống chân. Cổng nhà cũ khép hờ, như tôi để lúc đi. Cửa buồng bà Tần mở, buồng trống, cái cặp lồng không còn trên thành bể. Bà đã ra bãi. Chắc bà đi đường dốc đê đầu kia, vì tôi không gặp bà.

Tôi đi vòng ra phía cửa sổ buồng mình, định tháo sợi dây thép giữ khe cửa trước khi bà về.

Sợi dây thép vẫn còn. Khe cửa vẫn hở hai ngón tay. Nhưng trên bậu cửa, ngay trước khe hở ấy, có hai thứ.

Một con ngựa giấy trắng, đứng hơi nghiêng, hai mắt nhắm.

Và bên cạnh nó, đặt ngay ngắn như người ta đặt đôi dép trước cửa buồng mình trước khi đi ngủ, là một chiếc dép quai hậu nhựa đỏ, màu đã bạc thành màu hồng đất.

Tôi cúi xuống, không chạm tay, chỉ nhìn. Quai hậu còn nguyên, không đứt, không có mũi khâu nào. Đế dép dính một lớp bùn bãi còn ướt, mới, ánh lên dưới trời xám. Có người đã xỏ chân vào nó mà đi qua bãi đêm nay. Một chân có dép, một chân không.

Chiếc bên trái.

Chiếc trong hộp sắt của ông Thạc là chiếc bên phải.

— Hết chương 13 —

Mục lục Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

  1. 1Con ngựa thứ hai11 phút
  2. 2Làng phơi ngựa11 phút đọc
  3. 3Ngựa bị bịt mắt10 phút đọc
  4. 4Miếu Cô10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ có tên mẹ10 phút đọc
  6. 6Lá thư của mẹ10 phút đọc
  7. 7Tờ khai tử10 phút đọc
  8. 8Bộ rập trên gác xép10 phút đọc
  9. 9Ngày tôi ra đời10 phút đọc
  10. 10Lệ năm Bính Ngọ10 phút đọc
  11. 11Người đỡ đẻ xóm Đê10 phút đọc
  12. 12Bùn bến Cát10 phút đọc
  13. 13Chiếc dép đỏ10 phút đọc
  14. 14Mùng Một tháng Bảy10 phút đọc
  15. 15Những con ngựa trước cửa nhà cậu9 phút đọc
  16. 16Bài ru trong kho10 phút đọc
  17. 17Chìa khoá của bà10 phút đọc
  18. 18Người đàn bà ở bến Cát10 phút đọc
  19. 19Hộp sắt của dì12 phút đọc
  20. 20Lời bà Tần11 phút đọc
  21. 21Mưa ngâu11 phút đọc
  22. 22Người cưỡi10 phút đọc
  23. 23Lời bà Lý10 phút đọc
  24. 24Đoàn kiểm đếm dời ngày10 phút đọc
  25. 25Chiếc xe trên đê10 phút đọc
  26. 26Người chết trên giấy10 phút đọc
  27. 27Người làng nói10 phút đọc
  28. 28Chấm mực ở cằm11 phút đọc
  29. 29Đêm rằm10 phút đọc
  30. 30Kho cháy10 phút đọc
  31. 31Trước miếu Cô10 phút đọc
  32. 32Điểm mắt10 phút đọc
  33. 33Ông ngoại10 phút đọc
  34. 34Kết quả giám định10 phút đọc
  35. 35Tro của mẹ10 phút đọc
  36. 36Bến Cát12 phút đọc

Về truyện này

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →