Chương 17: Chìa khoá của bà
Tiếng hát tắt trước khi cậu Lộc đi ra.
Anh ta đứng ở cửa kho một lúc, quay lưng về phía chúng tôi, hai tay chống vào khung cửa, đầu cúi xuống, như người vừa chạy một quãng dài. Rồi anh ta khép cửa, bấm khoá móc, giật thử hai lần. Anh ta đặt cái cặp lồng vào cốp xe, đề máy, quay đầu xe lên lối mòn. Tiếng máy nổ xa dần, mất hẳn sau ruộng ngô.
Tú nắm cổ tay tôi, giữ chặt.
– Chờ đã chị. Bố em hay quay lại.
Chúng tôi chờ mười phút. Không ai quay lại. Chỉ có tiếng gà bới đất, tiếng ve trên mấy cây xoan ở xa, tiếng sông ở phía bến Cát. Rồi tôi gỡ tay Tú ra, đứng dậy, đi ra khỏi rặng chuối.
Tôi đi tới trước cửa kho. Cái khoá móc to như nắm tay. Hai cánh cửa gỗ đã bạc màu, chỗ hai cánh khép vào nhau có một khe hở dài từ trên xuống dưới, rộng bằng lưỡi dao. Dưới chân cửa, giữa mép ván và nền đất nện, có một khe hở khác, thấp, rộng chừng hai đốt ngón tay.
Tôi quỳ xuống đất. Tôi không biết phải nói gì. Tôi đã nghĩ suốt mười phút nấp trong rặng chuối mà không nghĩ ra được câu nào. Cuối cùng tôi nói câu duy nhất tôi chắc chắn.
– Con là Lam.
Trong kho im lặng.
– Con là con của mẹ Mận. – Tôi áp má xuống sát khe cửa dưới. Mùi bên trong lọt ra, mùi hồ chua, mùi giấy cũ, mùi dầu hoả, mùi người. – Mẹ con mất rồi. Con về đây. Có ai trong đó không?
Không có tiếng trả lời. Nhưng có tiếng chân. Rất khẽ, chân trần trên nền đất, đi từ góc trong ra, dừng lại ngay sau cánh cửa, cách mặt tôi chỉ một lớp ván. Tôi nghe được tiếng thở. Một tiếng thở ngắn, gấp, như người vừa khóc xong.
Rồi một vật trắng trượt ra từ khe cửa dưới, chạm vào đầu gối tôi.
Một con ngựa giấy nhỏ, bé hơn những con trong kho, chỉ bằng bàn tay. Ai đó đã đẩy nó ra, nằm nghiêng, vì khe cửa không đủ cao cho nó đứng. Nó nhắm mắt.
Tôi cầm nó lên. Hồ còn ướt.
– Chị ơi, đi thôi! – Tú gọi từ rặng chuối, giọng hoảng hốt. – Có người trên đê!
Tôi nhìn lên. Xa xa trên mặt đê có một bóng người đạp xe, chỉ là một người đi chợ về. Nhưng Tú đã chạy ra, kéo tôi đứng dậy. Tôi để nó kéo. Tôi cầm con ngựa nhỏ trong lòng bàn tay, như cầm một con chim non vừa rơi khỏi tổ, và đi theo nó trở lại ruộng ngô. Lúc ra tới mép bãi, tôi ngoái lại. Cái kho nằm giữa rặng chuối, cửa đóng, im lìm, như chưa từng có ai trong đó.
Cả buổi chiều tôi ngồi trong buồng, con ngựa nhỏ đặt trên mặt rương. Nó cũng có cái chân sau bên trái ngắn hơn một li.
Bảy giờ tối, cậu Lộc từ viện về. Tôi đứng chờ anh ta ở cổng nhà, như người ta đứng chờ một chuyến xe.
Anh ta xuống xe, thấy tôi, khựng lại. Rồi anh ta tháo kính, lau, đeo lại. Râu anh ta lởm chởm, mắt trũng sâu, người có mùi bệnh viện, mùi cồn và mùi nước sát trùng.
– Ông thế nào cậu?
– Qua cơn nguy rồi. – Anh ta nói. – Không nói được nữa, hai tay đều yếu. Bác sĩ bảo phải nằm viện ít nhất hai tuần. Cụ Tần chiều nay cậu đã cho về rồi, mợ cháu lên thay. Cháu đừng lên viện. Ông cần yên tĩnh.
– Con muốn hỏi cậu một chuyện.
Anh ta nhìn tôi, rồi nhìn Tú đang đứng sau cánh cửa sổ tầng hai, cái rèm khẽ động.
– Vào nhà.
Chúng tôi ngồi ở phòng khách, dưới bức tường đầy ảnh. Tấm ảnh chàng trai mười tám tuổi áo trắng dải đỏ vẫn treo ở góc dưới. Cậu Lộc không bật quạt. Anh ta ngồi trên ghế gỗ, hai khuỷu tay chống lên đầu gối, mười ngón tay đan vào nhau.
– Trong kho ngoài bãi là ai hả cậu?
Anh ta không giật mình. Có lẽ anh ta đã chờ câu này từ lúc thấy tôi ở cổng. Có lẽ từ lâu hơn nữa.
– Thằng Tú dẫn cháu ra à?
– Con tự đi.
– Ừ. – Anh ta thở dài, rất dài. – Cậu nói thật với cháu. Trong ấy là một bà điên. Người làng khác, không ai biết quê ở đâu. Hồi xưa, năm cậu còn bé, bà ấy lang thang qua đây, ngủ ngoài bãi, ăn xin ngoài chợ. Người làng xua đuổi. Ông thương, cho ở tạm trong kho. Rồi ở luôn. Không giấy tờ, không ai nhận. Cụ Tần mang cơm cho ăn. Ba mươi năm nay vẫn thế.
– Sao không ai trong làng biết?
– Biết thì người ta lại đồn ma, lại bảo nhà mình nhốt người. – Anh ta xoè hai bàn tay ra. – Mà nói ra thì làm gì? Đưa vào trại thì bà ấy chết. Bà ấy chỉ quen mỗi cái kho ấy, mỗi cụ Tần. Ông bảo cứ để bà ấy yên. Cậu nghe ông.
– Bà ấy hát bài ru của nhà mình.
– Cụ Tần hát cho bà ấy nghe ba mươi năm, cháu bảo bà ấy không thuộc à? – Anh ta không chớp mắt. – Người điên nhớ những thứ người ta hát cho nghe giỏi lắm.
– Bà ấy làm ngựa. Ngựa nhắm mắt. Như dì Đào.
– Cụ Tần dạy. – Anh ta đáp ngay. – Cho bà ấy có việc mà làm, đỡ lên cơn. Cháu thấy rồi đấy, cái kho đầy ngựa. Làm suốt ngày suốt đêm.
– Sao cậu đóng đinh tấm ván cửa sau?
Lần này anh ta nhìn lên trần nhà, nơi phòng của Tú.
– Vì có đứa trẻ con nào đó chui vào. Làm bà ấy sợ, lên cơn mấy ngày. – Anh ta hạ mắt xuống, nhìn tôi. – Cháu hiểu rồi chứ? Không có ma, không có lời nguyền. Chỉ có một bà điên tội nghiệp mà nhà mình nuôi vì thương. Cậu xin cháu đừng nói với ai, ít nhất là tới qua rằm. Qua rằm, cậu sẽ lo cho bà ấy vào một trung tâm tử tế, có bác sĩ, có người chăm. Cụ Tần già rồi, không chăm được nữa.
Câu chuyện ấy cũng khít. Khít như cái khung ngựa bà Tần dạy tôi buộc, mỗi khớp hai vòng lạt. Cậu Lộc là người giỏi buộc khung. Tôi đứng dậy, cảm ơn anh ta, và đi về. Tôi không nói với anh ta về con ngựa nhỏ đã trượt ra khỏi khe cửa và chạm vào đầu gối tôi, hồ còn ướt. Tôi không nói với anh ta rằng một bà điên người làng khác thì không biết cách thắt lạt hai vòng. Không biết bớt chân sau bên trái đi một li, nếu không có ai cầm tay mà dạy đúng như dì Đào đã làm. Mà bà Tần thì buộc lạt một vòng.
Bà Tần về tới nhà lúc gần tám giờ, đi xe khách từ tỉnh về rồi đi xe ôm từ chợ ra đê. Bà mệt tới mức phải bám vào cột cổng mà đứng. Tôi đỡ bà vào hiên. Bà không ngồi. Bà vào bếp, nấu một nồi cơm, rán hai quả trứng, múc vào cái cặp lồng mà ai đó đã rửa sạch và đặt lại trên thành bể. Trời phía tây đã tối sầm, mây đen kéo thành một bức tường thấp trên mặt sông.
– Bà, để con đi.
– Mày không biết đường.
– Con biết.
Bà nhìn tôi, rất lâu. Rồi bà xách cặp lồng, đội nón, đi ra cổng. Tôi đứng nhìn bà leo con dốc đê, từng bước một, cái lưng còng đen sẫm trên nền trời đang tối dần. Bà đi gần một tiếng mới về, ướt lưng áo mồ hôi.
Tôi chờ bà rửa chân, ngồi xuống chõng. Tôi ngồi xuống cạnh bà. Ngoài trời, gió đã nổi, cây cau trước sân lắc lư, tàu lá đập vào nhau lạch xạch.
– Bà ơi. Cái bài ru ngựa nhắm mắt. Ngoài bà với mẹ con ra, còn ai hát nữa không bà?
Bà Tần không nhìn tôi. Bà nhìn ra cái sân đang tối dần, nhìn cây cau, nhìn cái bể nước mưa. Hai bàn tay bà đặt trên đùi, những ngón tay cong vẹo vì thấp khớp, run lên. Rồi bà gục đầu xuống. Không khóc. Chỉ gục xuống, như người đã mang một cái gánh quá nặng trên vai quá lâu, và bây giờ đôi vai không chịu nữa.
– Mai, – bà nói, giọng như từ dưới đáy giếng vọng lên. – Mai bà dẫn đi.
Mười một giờ đêm, giông đổ xuống.
Tôi chưa từng thấy giông như thế ở Sài Gòn. Sấm không rền từ xa mà nổ ngay trên mái nhà, mỗi tiếng như ai đập một cái chảo gang khổng lồ. Chớp loé lên trắng xoá, trong một giây tôi thấy cả căn buồng hiện ra, cái gương tráng thuỷ, cái rương, con ngựa nhỏ trên mặt rương, rồi tất cả chìm lại vào bóng tối. Mưa quất vào cửa sổ như ai ném sỏi. Gió rít qua kẽ ngói. Điện mất.
Tôi nghe tiếng then cửa buồng bên kia kéo ra.
Tôi chạy ra. Trong ánh chớp, tôi thấy bà Tần ở giữa sân, giữa mưa, đầu không nón, người khoác một tấm áo mưa ni lông cũ, tay xách cái đèn pin. Bà đang đi về phía cổng.
– Bà ơi! Bà đi đâu vậy bà!
– Nó sợ sấm! – Bà quát lại, giọng bị gió xé ra từng mảnh. – Nó sợ sấm lắm!
Tôi chạy ra sân. Mưa ướt sũng người tôi trong một giây. Tôi chưa kịp tới chỗ bà thì bà đã trượt chân. Nền gạch sân lõm thành vũng, rêu trơn dưới nước mưa. Bà ngã ngửa, cái đèn pin văng ra, lăn lông lốc trên gạch, quầng sáng của nó quay tít như con quay. Tôi nghe một tiếng hự, rồi không nghe gì nữa ngoài tiếng mưa.
Tôi quỳ xuống cạnh bà, đỡ đầu bà lên. Bà còn tỉnh. Mắt bà mở, nước mưa chảy qua mặt bà. Bà nhăn mặt, tay bám vào hông.
– Bà ơi, bà đau chỗ nào?
– Hông. – Bà rít qua kẽ răng. – Không gãy đâu. Ngã mãi rồi.
Tôi xốc nách bà, dìu bà vào nhà. Bà nhẹ như một bó rơm ướt. Tôi đặt bà lên giường, lau mặt cho bà, thay cho bà cái áo khô. Người bà nóng ran. Tôi sờ trán bà, nóng như hòn than. Bà sốt từ lúc ở viện về mà không nói với ai.
Ngoài kia, một tiếng sấm nữa nổ ngay trên nóc nhà. Bà giật bắn người, tay bấu vào cổ tay tôi.
Rồi bà buông ra, đưa tay lên cổ mình, lần tìm một sợi dây. Một sợi dây chun cũ, đeo dưới lớp áo, tôi chưa từng thấy. Bà giật mạnh, sợi dây đứt. Đầu dây có một chiếc chìa khoá bằng đồng, to, cũ, mòn vẹt. Bà dúi chiếc chìa khoá vào lòng bàn tay tôi, rồi chỉ vào cái túi vải treo ở đầu giường. Cái túi bà đã chuẩn bị sẵn từ lúc nào tôi không biết, trong đó có một cái khăn bông khô, một cái bánh mì và một lọ thuốc nhỏ không dán nhãn.
– Nó sợ sấm, – bà nói. Hơi thở bà nóng hổi phả vào tay tôi. – Đi đi. Đừng để nó ra sông.
— Hết chương 17 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe