Chương 36: Bến Cát
Sáng mười hai tháng Chạp năm Bính Ngọ, dì Đào xé tờ lịch của chính ngày hôm ấy, như năm Bính Tý, rồi không gấp tư nó lại.
Dì cầm tờ lịch trên tay, đứng giữa buồng, quay sang nhìn tôi. Năm giờ sáng, trời tháng Chạp còn tối đen, gió bấc rít qua song cửa sổ. Tôi đã thức, đang nằm trên giường, phía trong, chỗ mẹ tôi từng nằm. Từ tháng Mười, dì bắt tôi lên giường nằm. Dì nằm ngoài. Dì vẫn hay đạp chăn.
Tờ lịch trên tay dì, xé từ quyển lịch năm mới bà Tần mua ở chợ phiên đầu tháng, là con số mười chín, chữ đỏ to. Bên dưới là dòng chữ nhỏ: ngày mười hai tháng Chạp năm Bính Ngọ.
Ba mươi năm trước, cũng trong một cái tháng Chạp rét cắt ruột như thế này, giữa một căn kho ngoài bãi, dì đã xé một tờ lịch như vậy, viết tên tôi lên đó.
Tôi ngồi dậy, bật cái đèn bàn trên mặt rương. Dì đặt tờ lịch lên mặt rương, cạnh cái kính lúp và hộp dao gạt của tôi. Dì lấy cây bút bi trong ống bút, lật tờ lịch lại, và dì vẽ. Một con ngựa nhỏ bằng đốt ngón tay. Cái lưng cong, bốn cái chân, chân sau bên trái ngắn hơn. Cái bờm răng cưa. Rồi hai con mắt. Hai nét cong, rồi dưới mỗi nét cong, một vòng tròn đen tô kín, chừa một đốm trắng ở giữa.
Rồi dì đưa cây bút cho tôi.
Tôi cầm bút. Tôi nhìn tờ giấy. Ba mươi năm, mỗi năm một tờ, dì viết tên tôi, rồi đếm tuổi tôi bằng chữ, bằng gạch, rồi bằng những nét rối, rồi bằng ngựa. Hai mươi chín tờ nằm trong cái hộp sắt dưới gối của dì, cái hộp tôi đã kịp xếp vào túi vải mang ra khỏi kho trước đêm rằm. Tờ thứ ba mươi đang nằm trước mặt tôi.
Tôi viết, bên dưới con ngựa mở mắt, bằng chữ của tôi: "Lam ba mươi tuổi."
Dì nhìn dòng chữ rất lâu. Rồi dì gấp đôi tờ lịch, rút cái hộp sắt dưới gối ra, mở nắp, đặt nó lên trên cùng, đậy lại.
Tôi đã không lên chuyến bay ngày ba mươi tháng Chín.
Tôi bay vào Sài Gòn một lần nữa vào giữa tháng Mười, trả lại căn hộ tầng mười hai, gửi đồ ra Bắc bằng xe tải, ký những tờ giấy cuối cùng ở bảo tàng. Anh Vĩnh bảo khi nào phòng có việc khó thì sẽ gửi ra cho tôi. Cô Diệp không tiễn. Cô ngồi trong phòng làm việc, đeo kính lúp, làm như đang bận một tờ bản đồ. Lúc tôi chào, cô chỉ giơ tay lên, không quay lại. Tối ấy cô nhắn: "Cái hòm rập xong thì chụp cho cô coi."
Người ta hỏi tôi vì sao tôi ở lại. Mợ Thoa hỏi. Chị Ngân hỏi. Ông từ Nhự hỏi bằng cái nhìn qua cặp kính lão. Tôi không trả lời được bằng một câu. Tôi chỉ biết rằng đêm rằm tháng Tám, khi bà Tần hỏi tôi đi hay ở, tôi đã nhìn sang bậc thềm, nơi dì Đào ngồi cạnh ông Thạc nhìn đoàn đèn trẻ con đi qua đầu ngõ. Và tôi thấy mình không muốn ai phải đặt một con ngựa nhắm mắt trước cửa buồng tôi để xin tôi ở lại. Mẹ tôi đã bỏ đi vì một con ngựa như thế. Tôi muốn ở lại vì không ai phải xin.
Gian bên phải nhà cũ giờ là chỗ tôi làm việc. Một cái bàn gỗ dài kê sát cửa sổ cho có ánh sáng, tấm kính, đèn bàn, cái máy hút ẩm nhỏ tôi mua trên tỉnh. Cái máy may của mẹ đặt ở góc, đã lau dầu, đã chạy được. Trên mặt máy có một con ngựa giấy báo. Hôm từ gò mộ về, tôi đưa cho dì xem con ngựa không đầu mẹ gấp dở. Dì ngồi nhìn nó cả buổi chiều. Tối ấy dì cắt một cái đầu ngựa bằng giấy báo cũ, dán vào chỗ cái cổ mẹ đã dừng lại, vẽ hai con mắt mở. Tôi làm xong cái hòm rập trên gác xép từ cuối tháng Mười, từng tấm, tách bằng hơi ẩm, bồi lại bằng giấy Nhật cô Diệp cho. Tôi chụp ảnh gửi cô. Cô gọi lại, không khen, chỉ hỏi sao chỗ chữ "Đào làm, 1995" lại để nguyên vết ố, không tẩy. Tôi nói con để vậy. Cô im một lúc, rồi bảo: "Ừ. Để vậy đúng."
Rồi ông từ Nhự mang tới cuốn hương ước của làng, chép tay từ đời cụ Cẩn, mối xông một nửa, giấy dó mủn như bánh đa nhúng nước. Ông đặt nó lên bàn tôi bằng hai tay, như đặt một đứa trẻ ốm. Tôi đang làm nó, mỗi ngày mấy trang. Trong đó có điều lệ về ngựa cho Cô năm Bính Ngọ, chữ Hán Nôm, ông Nhự đọc cho tôi nghe. Không có chữ nào nói con gái không được điểm mắt. Câu ấy người làng tự thêm vào sau, không ai nhớ từ bao giờ.
Còn cậu Lộc thì vẫn chờ. Cơ quan điều tra gọi lên mấy lần, lần nào anh ta cũng đi một mình, về một mình. Tay anh ta đã lành, để lại những vệt da bóng loáng trên mu bàn tay, anh ta không còn cầm được kéo cắt giấy cho đều. Có những tối anh ta đứng ngoài cổng nhà cũ mười lăm phút rồi về, không vào. Có một tối dì Đào thấy anh ta. Dì đi ra cổng, đưa cho anh ta một con ngựa nhỏ, rồi đi vào. Hôm sau tôi thấy con ngựa ấy đặt trên bàn thờ ông ngoại bên nhà cậu, cạnh bát hương. Hai mắt nó mở.
Tám giờ sáng hôm ấy, mười hai tháng Chạp, tôi đưa dì lên Uỷ ban xã.
Chị Duyên ở bộ phận hộ tịch đã gọi từ tuần trước. Giấy tờ của dì xong rồi. Tất cả những bước người ta phải đi qua để một người đã khai tử sống lại trên giấy tờ, từng bước một, không bỏ bước nào. Hôm nay dì đến nhận căn cước.
Chị Ngân đứng chờ ở hành lang, mặc cảnh phục, tay cầm một cái phong bì. Chị dẫn dì vào căn phòng nhỏ, kéo ghế cho dì ngồi. Chị Duyên đặt lên bàn trước mặt dì một tờ giấy biên nhận và một cây bút bi.
– Bác ký vào đây, bác ơi, – chị Duyên nói, chỉ vào cái ô trống ở góc dưới. – Bác không ký được thì bác điểm chỉ cũng được ạ. Hộp mực đây.
Dì Đào nhìn cái hộp mực đỏ. Rồi dì nhìn cây bút bi.
Tôi đã định nói: dì điểm chỉ thôi, không sao. Tôi đã thấy dì cầm bút cả tháng nay, chỉ để vẽ ngựa. Hai mươi năm nay, kể từ cái năm những nét chữ "Lam" thành những nét gạch, rồi thành những vòng rối, dì chưa viết được một chữ nào.
Dì cầm cây bút bi lên.
Dì cúi xuống tờ giấy. Rất lâu. Ngòi bút chạm vào ô trống, run. Tôi đặt hai ngón tay giữ mép tờ giấy cho phẳng, như vẫn giữ những tờ thư cổ trên bàn làm việc, không chạm vào tay dì.
Dì viết một chữ. Nét đầu tiên là một nét sổ thẳng, hơi lệch. Rồi một nét cong bụng tròn. Rồi một nét gạch ngang, kéo dài, vắt ra ngoài thân chữ, kết thúc bằng một cái chấm hơi đậm, chỗ ngòi bút dừng lại ấn xuống trước khi nhấc lên.
Chữ "Đ".
Tôi đã thấy chữ "Đ" ấy dưới kính lúp, trên một tấm rập ghi "Đào làm, 1995", trên một mảnh lịch ghi "Đan Lam", ngay trong căn buồng này, gần sáu tháng trước. Người ta có thể tập cho chữ giống. Nhưng không ai tập được cái chỗ ngòi bút dừng lại.
Dì viết tiếp, chậm, run. Chữ "a". Chữ "o". Cái dấu huyền bay lệch ra xa, như con chim chưa đậu đúng cành. Rồi dì đặt bút xuống.
Đào.
Chị Duyên nhìn tờ giấy, rồi nhìn chị Ngân. Chị Ngân quay mặt ra cửa sổ một lúc. Rồi chị mở cái phong bì, lấy ra một tấm thẻ nhựa nhỏ, đặt vào lòng bàn tay dì.
Ảnh của dì, chụp hồi tháng Mười hai, tóc bạc cắt gọn ngang vai, áo cánh trắng, không cười. Dưới ảnh là tên dì, ngày sinh của dì, quê quán: thôn Phù Mã.
Dì lật tấm thẻ đi lật lại, như lật một con ngựa vừa làm xong để xem có chỗ nào chưa phẳng. Rồi dì đưa nó cho tôi cầm, như đưa cái dao gạt bằng xương của tôi trả lại hôm nào trong kho. Tôi cất nó vào ví, cạnh mẩu giấy ghi số điện thoại của chị Ngân mà tôi vẫn giữ từ tháng Tám.
Ông Thạc hẹn chín giờ.
Ông đã sửa xong cái thuyền nan từ hồi nước xuống, trét lại dầu rái, thay hai cái mái chèo. Ông bảo mùa đông sông hiền, ông sẽ đưa dì ra giữa sông một lần cho dì xem. Tôi hỏi ông xem cái gì. Ông nói: thì xem sông.
Bãi tháng Chạp khác hẳn bãi tháng Bảy. Ngô đã thu từ lâu, đất bãi trơ ra những luống cày khô, những gốc rạ ngô cắm lởm chởm. Rặng chuối còn, lá xơ xác vì gió bấc. Dọc bãi đã có những cái cọc mốc sơn đỏ của dự án kè, cắm thẳng hàng từ bến Vó xuôi xuống. Chỗ cái kho chỉ còn một khoảng đất phẳng, đã san, cỏ gà mọc lún phún, không ai còn nhận ra có một căn nhà từng đứng ở đó, nếu không biết. Đàn gà của bà Tần đã được bắt về nuôi sau nhà cũ.
Sông Hồng mùa cạn không đỏ. Nước xanh xám, chậm, trong tới mức đứng trên bờ nhìn thấy cả những hòn sỏi ở mép nước. Bến Cát trồi lên hết. Bảy bậc gạch vỡ, từ bờ đất xuống tới mép nước, rêu đã khô thành những vệt nâu. Cái cọc tre buộc thuyền vẫn cắm ở mép bậc thứ ba, nghiêng nghiêng, ai đó đã cắm lại sau đêm ông Thạc nhổ nó lên.
Dì Đào đứng trên bậc trên cùng. Dì đếm. Tôi nghe dì đếm, rất khẽ, môi mấp máy. Một. Hai. Ba. Bốn. Năm. Sáu. Bảy. Dì đếm tới bảy rồi im, như người lần đầu thấy hết một thứ mình chỉ từng thấy một nửa.
Ông Thạc đã đến từ trước. Cái thuyền nan đã nằm sát bậc cuối, mũi thuyền buộc vào cái cọc tre, ông ngồi ở đuôi thuyền, tay đặt trên mái chèo, chờ. Ông mặc cái áo sơ mi ông mua hôm ra Nội Bài đón tôi, cổ cài kín cúc.
– Ba đến từ mấy giờ? – tôi hỏi.
– Tám giờ. – Ông nói. Rồi ông nhìn dì Đào, nói thêm, rất nhỏ: – Lần này đến sớm.
Dì Đào bước xuống. Từng bậc một, chân đi đôi dép nhựa nâu. Tôi đi sau dì một bậc, không nắm tay dì, chỉ đi sau. Tới bậc thứ ba, chỗ cái cọc tre, dì dừng lại. Dì đặt tay lên thân cọc. Dì đứng như thế một lúc, nhìn xuống mặt nước, nhìn chiếc thuyền, nhìn người đàn ông ngồi ở đuôi thuyền.
– Thuyền, – dì nói.
– Ừ, – ông Thạc nói. – Thuyền đây.
Ông chìa tay ra. Bàn tay trái, ngón trỏ cụt một đốt. Dì nắm lấy bàn tay ấy, bước xuống thuyền. Chiếc thuyền chao một cái rồi đứng lại. Dì ngồi xuống tấm ván giữa thuyền. Tôi bước xuống theo, ngồi ở mũi.
Ông Thạc tháo dây khỏi cọc tre, chống mái chèo vào bậc gạch, đẩy. Chiếc thuyền rời bến, trôi ra, chậm, nhẹ, như người ta đặt một con ngựa giấy lên mặt nước.
Giữa sông, gió bấc thổi lạnh buốt, nước vỗ vào mạn thuyền lắc rắc. Bờ bên kia là một dải bãi xa, những rặng tre mờ trong sương. Bờ bên này là mặt đê, là những mái nhà làng Phù Mã chen nhau dưới những lùm nhãn trụi lá, là cây gạo già ở bến Vó đứng trơ cành chờ tháng Ba trổ hoa. Là gò mộ họ Nghiêm giữa cánh đồng đã gặt, là rặng chuối, là bảy bậc gạch của bến Cát.
Dì Đào ngồi giữa thuyền, quay lưng về phía bờ bên kia, nhìn về phía làng. Dì nhìn rất lâu. Rồi dì hát.
Không phải hát nhỏ như trong kho, không phải hát dính chữ như trên lưng ông Thạc đêm rằm. Dì hát rõ từng chữ, giọng khàn, mỏng, nhưng đủ hết bốn câu, như người đã nhớ ra cả bài.
Ru hời ru hỡi ru hời,
Ngựa ơi nhắm mắt cho người qua sông.
Qua sông thì nhớ bến không,
Bến thì còn đó, người không thấy về.
Ông Thạc không chèo nữa. Ông để mái chèo nằm trên mặt nước, để chiếc thuyền trôi. Tôi ngồi ở mũi thuyền, hai tay nắm chặt mép ván. Hai mươi chín năm tôi nghe mẹ hát bài này trong căn gác tối, giọng nhỏ như sợ ai ngoài cửa nghe thấy. Hôm nay có một người hát nó giữa sông, giữa trời, không sợ ai nghe cả.
Dì hát xong thì im. Dì quay sang ông Thạc, chỉ tay về phía bến Cát.
Ông Thạc cầm mái chèo lên. Chiếc thuyền quay mũi, ngược về phía bờ. Bảy bậc gạch to dần, rõ dần. Cái cọc tre. Rặng chuối. Mũi thuyền chạm vào bậc cuối, cạ vào gạch một tiếng sột soạt, như tiếng giấy chạm vào gỗ. Ông Thạc vòng dây buộc thuyền vào cái cọc tre.
Dì Đào đứng dậy trước. Dì bước lên bậc gạch, một bậc, hai bậc, ba bậc. Tới bậc thứ ba dì quay lại. Tôi vẫn ngồi ở mũi thuyền.
Dì chìa tay xuống cho tôi, bàn tay gầy, lạnh, như tôi đã chìa tay cho dì giữa nước lũ đêm giông, như dì đã đặt tay tôi vào đúng chỗ trên khung ngựa.
– Về, – dì nói.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe