Chương 26: Người chết trên giấy
Chị Ngân không đưa dì Đào đi đâu trong đêm ấy.
Chị gọi điện cho trưởng công an xã ngay giữa sân kho, đi ra mép rặng chuối mà nói, giọng nhỏ. Nhưng tôi nghe được mấy chữ "người đã khai tử", "ba mươi năm", "báo cáo lên tỉnh ngay trong đêm". Rồi chị quay lại, bảo cậu công an viên trẻ ở lại trên mặt đê tới sáng. Chị bảo tôi đêm nay cứ để dì ngủ ở chỗ dì quen, tôi ở lại với dì, sáng mai chị đến cùng bác sĩ.
Cậu Lộc về lúc nào tôi không để ý. Lúc tôi quay ra, giữa sân đất chỉ còn cái đèn pin anh ta bỏ quên, vẫn sáng, soi một vệt vàng lên mặt đất về phía con dốc đê.
Bảy giờ sáng Chủ nhật, chị Ngân quay lại, mặc cảnh phục. Đi cùng chị là một cán bộ nữ công an xã, và chị Hạnh, bác sĩ trạm y tế, người đã khám cho bà Tần hôm đêm giông. Chị Hạnh chừng ba mươi, người nhỏ, đeo kính, đeo cái túi y tế chéo vai, giày vải lấm bùn tới mắt cá.
Dì Đào đang ngồi trên bậc cửa, chải tóc. Thấy ba người lạ, tay dì dừng lại.
Chị Hạnh không bước tới. Chị ngồi xuống luôn ở mép sân, đặt cái túi xuống đất, cởi kính ra lau, như người có cả buổi sáng để ngồi đó. Chị nhìn tôi.
– Chị ngồi cạnh bác ấy giúp em. Chị làm trước, bác ấy nhìn chị làm thì bác ấy đỡ sợ.
Tôi ngồi xuống cạnh dì. Chị Hạnh đi tới, chậm, ngồi xổm trước mặt tôi. Chị đo huyết áp cho tôi trước. Cái băng quấn tay xì xì phồng lên quanh cánh tay tôi. Dì Đào nhìn, không chớp. Chị Hạnh tháo băng, cười với tôi, rồi chìa cái băng về phía dì, không nói gì. Dì nhìn cái băng, nhìn tôi. Tôi gật đầu. Dì chìa cánh tay gầy ra.
Chị Hạnh khám rất lâu. Nghe tim, nghe phổi. Soi mắt bằng cái đèn nhỏ, rọi một tí rồi tắt ngay. Xem hai bàn tay, xem móng tay, xem lòng bàn chân chai sạn. Chị nhìn vết sẹo lõm trên thái dương trái, không chạm vào. Rồi chị xin cái lọ thuốc không nhãn tôi đang giữ, đổ một viên ra lòng bàn tay, xoay xoay dưới nắng, đọc mấy chữ in chìm trên viên thuốc.
– Thuốc chống động kinh, – chị nói. – Loại cũ, rẻ, nhưng đúng thuốc. Ai mua cho bác ấy thì người ấy hỏi bác sĩ đàng hoàng. – Chị cất viên thuốc lại vào lọ. – Bác ấy suy dinh dưỡng nhẹ, huyết áp hơi thấp, có di chứng chấn thương sọ não cũ, nặng. Phải lên bệnh viện tỉnh khám thần kinh, chụp chiếu đầy đủ. Không phải hôm nay. Hôm nay bác ấy đã sợ nhiều quá rồi.
Chị nhìn quanh cái kho, nhìn cái ô thoáng có chắn sắt trên cao.
– Và bác ấy không ở đây được nữa, chị ạ.
Trưa, người của công an tỉnh xuống.
Hai người, đi một chiếc ô tô biển xanh, đỗ trên mặt đê. Một người chừng bốn mươi, mặc thường phục, tóc húi cua, mắt rất tĩnh, xưng là Khôi, điều tra viên. Người kia trẻ hơn, mang máy ảnh. Anh Khôi không hỏi ai trước. Anh đứng ở ngưỡng cửa kho đúng một phút, không nói gì, nhìn. Rồi anh bảo cậu cầm máy ảnh chụp lại toàn bộ hiện trạng, từng góc, từng bức tường, từng đồ vật, không xê dịch thứ gì. Chiều, khi dì đã rời đi, anh cho dán niêm phong lên cánh cửa kho, dặn gia đình không ai được vào.
Rồi anh ngồi xuống cái ghế nhựa chị Ngân mang từ trên đê xuống, mở cuốn sổ, và bắt đầu hỏi.
Tôi kể. Từ con ngựa trong hộp các-tông ở Sài Gòn. Từ mảnh lịch, chữ "Đan Lam". Tôi kể hết, theo thứ tự ngày tháng, như lập một bản mô tả hiện vật. Anh Khôi nghe, ghi, không ngắt lời, thỉnh thoảng hỏi lại một ngày, một giờ. Khi tôi đưa mảnh lịch cháy một góc cho anh xem, anh không cầm. Anh bảo cậu cầm máy ảnh chụp cả hai mặt, đặt cái thước đo cạnh, rồi trả lại tôi.
– Chị giữ cẩn thận, – anh nói. – Có thể chúng tôi sẽ cần.
Rồi anh hỏi tôi biết từ đêm giông hôm mười lăm tháng Tám, sao bây giờ mới báo. Tôi nói thật. Tôi kể câu cậu Lộc nói dưới mưa ngâu: ông ngoại đi tù, bà Tần đi tù, dì vào trại. Anh Khôi nghe, gật đầu, không ghi câu ấy.
– Ai phải chịu trách nhiệm gì, đến đâu, là việc chúng tôi xác minh, chị ạ. – Anh nói. – Chị không phải tự mình cân việc ấy. Người ta giữ một người ba mươi năm vì sợ cái cân ấy đấy.
Ông Thạc kể đêm năm chín sáu, cái dép, cái thuyền nan, ba ngày công an xã hỏi ông hồi ấy. Tú kể cái flycam, tấm ván mục cửa sau, cái video bố nó xem đi xem lại ba lần rồi xoá sạch, rồi mở cho anh Khôi xem tấm ảnh chụp màn hình mờ nhoè. Anh Khôi xem rất lâu, hỏi Tú có còn giữ tài khoản lưu trữ không, rồi bảo Tú đừng xoá gì cả.
Chiều, anh Khôi lên nhà cũ, ngồi cạnh giường bà Tần.
Bà đã vấn khăn, đã mặc cái áo cánh nâu, ngồi dựa lưng vào thành giường, hai tay đặt trên chăn. Bà không chờ anh hỏi.
– Tôi là Nghiêm Thị Tần, tám mươi hai tuổi. – Bà nói, chậm, rõ, như người đọc văn khấn. – Ba mươi năm tôi nuôi cháu tôi trong cái kho ngoài bãi. Anh tôi bảo giấu thì tôi giấu. Tôi biết là sai. Anh muốn bắt tôi thì anh bắt.
Anh Khôi đặt cuốn sổ lên đầu gối.
– Bà cứ kể, cháu ghi. – Anh nói. – Bắt hay không là chuyện của pháp luật, bà ạ. Việc của cháu bây giờ là ghi cho đúng.
Bà kể. Lần thứ hai bà kể câu chuyện ấy, và lần này tôi ngồi ngoài hiên, không vào. Tôi nghe giọng bà qua cửa sổ, đều đều, không vấp, không khóc. Có lẽ người ta chỉ khóc ở lần kể đầu tiên.
Cậu Lộc thì không có mặt. Chị Ngân bảo anh ta đã tự lên công an xã từ sáng, ngồi trong một căn phòng với một cán bộ khác, khai suốt hai tiếng. Anh ta khai gì thì chị không nói, và tôi không hỏi.
Bốn giờ chiều, dì Đào rời khỏi kho.
Dì không chịu đi khi tôi bảo đi. Dì ngồi trên mép phản, ôm cái hộp sắt dưới gối vào lòng, lắc đầu. Ông Thạc đứng ở cửa, không biết làm gì với hai bàn tay. Rồi tôi hiểu. Tôi lấy cái túi vải, xếp vào đó từng thứ một, chậm, cho dì nhìn thấy. Cái hộp sắt, cái hộp kẹo bạc hà đựng người giấy, con dao vót nan cán quấn vải, cái kéo cũ, cái lược hồng, mấy bó lạt. Tôi tháo quyển lịch bloc khỏi cái đinh trên vách, đặt vào túi. Dì nhìn quyển lịch nằm trong túi vải, rồi dì đứng dậy.
Dì chọn hai con ngựa trên tường. Một con ôm trước ngực, một con đưa cho tôi cầm.
Chúng tôi đi qua ruộng ngô đổ, lên con dốc đê. Dì nắm tay tôi, không chịu buông. Lên tới mặt đê, dì dừng lại, quay nhìn xuống bãi. Cái kho nằm giữa rặng chuối dập nát, nhỏ xíu, mái ngói rêu, im lìm. Dì nhìn nó rất lâu. Rồi dì quay đi, và dì không ngoái lại nữa.
Làng biết từ trước khi chúng tôi xuống tới chân đê.
Tôi không biết ai nói. Có thể là cậu công an viên trẻ, có thể là người lái xe ôm chở anh Khôi, có thể là chính tiếng thét đêm qua đã bay khắp bãi. Dọc con ngõ lát gạch dẫn xuống nhà cũ, người ta đứng ở cổng, ở đầu hồi, ở trên bờ tường. Đàn bà ôm con, đàn ông cầm điếu cày, mấy đứa trẻ trèo lên cây nhãn. Không ai nói to. Chỉ có tiếng thì thào chạy dọc con ngõ trước chúng tôi, như gió chạy trên đồng lúa.
– Cô Đào đấy.
– Cô Đào sống.
– Ma cô Đào…
– Ba mươi năm, giời ơi, ba mươi năm.
Chị Nụ đứng ở đầu ngõ, cái mũ vải lệch, một tay còn cầm cái chổi quét hồ, tay kia bịt miệng. Chị nhìn dì Đào đi qua, mắt chị đỏ hoe. Chị không nói câu nào. Lần đầu tiên tôi thấy chị Nụ không nói câu nào.
Ông từ Nhự đứng trước cổng nhà cũ. Ông đã tháo cặp kính lão, cầm trong tay. Khi dì Đào đi qua, ông cúi đầu, như người ta cúi đầu trước một đám rước.
Dì Đào không nhìn ai. Dì nhìn cây cau nghiêng trước sân, nhìn bể nước mưa có cái gáo dừa úp trên thành, nhìn cái hiên gỗ. Dì đi thẳng vào gian bên trái, buồng mẹ tôi, đứng giữa buồng. Dì nhìn cái giường bốn cột, cái rương sơn then, cái gương tráng thuỷ bong lốm đốm. Dì đặt tay lên mép giường, lần theo thanh gỗ từ đầu giường xuống cuối giường.
– Chị Mận nằm trong, – dì nói. – Em nằm ngoài.
Tôi đứng ở cửa buồng, cái túi vải trong tay, không bước vào được.
Bà Tần đã chống gậy ra tới cửa buồng mình. Bà đứng đó, tay bám vào khung cửa. Dì Đào quay lại, nhìn thấy bà. Dì nhìn bà một lúc, rồi đi tới, cầm lấy cái quạt nan trên tay bà, dìu bà về giường, đặt bà nằm xuống, và ngồi quạt cho bà. Quạt đều tay, chậm, như người đã quạt cho bà già này nhiều năm rồi. Bà Tần nằm im, nhìn lên đỉnh màn, nước mắt chảy dài xuống hai bên thái dương. Ba mươi năm bà mang cơm cho dì. Hôm nay dì quạt cho bà.
Năm giờ, một cán bộ kỹ thuật của tỉnh đến lấy mẫu. Tăm bông quệt vào má trong, cho vào ống nhựa có dán nhãn. Tôi, dì Đào, ông Thạc. Anh Khôi nói đó là để xác định danh tính, vì người trong giấy tờ đã khai tử, muốn trả lại tên cho người còn sống thì phải có căn cứ. Kết quả vài ngày, có khi một tuần. Ông Thạc há miệng cho người ta lấy mẫu như một đứa trẻ há miệng cho mẹ đút cơm, mắt không rời dì Đào.
Tối ấy dì không ăn.
Tôi bưng vào buồng một bát cháo thịt băm, một đĩa nhãn đã bóc. Dì không động tới. Dì ngồi bên cửa sổ, cái cửa sổ song gỗ trông ra con ngõ dốc lên đê, nơi tôi đã nghe tiếng giấy sột soạt đêm đầu tiên. Dì ôm con ngựa trước ngực, nhìn ra ngoài. Trăng mười hai đã lên cao, đầy đặn, rọi qua song cửa thành những vệt sáng nằm ngang trên mặt dì.
Tôi ngồi xuống cạnh dì, cầm thìa cháo lên. Dì quay mặt đi.
Rồi dì nói. Không với tôi. Không với ai. Ba chữ, cách nhau những khoảng lặng dài, lặp đi lặp lại, như người lần một tràng hạt:
– Rằm. Bến. Ngựa.
Rồi lại:
– Rằm. Bến. Ngựa.
— Hết chương 26 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe