Chương 5: Ngôi mộ có tên mẹ
Ai đó đã mở va-li của tôi.
Tôi biết ngay khi bước vào buồng, sáu giờ rưỡi sáng thứ Hai, tóc còn ướt nước bể. Cái va-li vẫn nằm dưới gầm giường, vẫn đúng chỗ, khoá kéo vẫn kéo kín. Nhưng cái khoá kéo dừng ở bên phải. Tôi luôn kéo nó về bên trái, sát cái tay cầm, vì đó là cách cô Diệp dạy tôi đóng hộp hiện vật: bao giờ cũng khép về một phía để biết có ai mở hay chưa. Thói quen ấy tôi mang cả vào đời thường.
Tôi kéo va-li ra, mở. Quần áo vẫn ở trong, nhưng xếp lại khác. Mấy cái áo tôi cuộn tròn giờ bị gấp vuông. Túi đồ nghề bị dựng đứng thay vì nằm. Tôi lật đáy va-li. Hộp bánh sắt vẫn ở đó. Tôi mở nắp. Con ngựa của mẹ vẫn nằm trong lớp giấy lụa, sợi chỉ đỏ vẫn quấn cổ. Tôi thở ra một hơi mà không biết mình đã nín từ lúc nào.
Không mất gì. Giấy tờ của tôi, ví tiền, điện thoại, con ngựa thứ hai, đều ở trong ba lô, và ba lô tôi mang theo cả khi ra bể. Người mở va-li tìm một thứ gì đó, và không tìm thấy.
Bà Tần không có nhà. Sáng nào bà cũng đi từ lúc trời chưa sáng. Hôm qua tôi đã thấy bà, năm giờ, xách một cái cặp lồng nhôm ba ngăn, đi lên dốc đê rồi rẽ xuống phía bãi. Tôi hỏi, bà bảo ra bãi cho gà ăn, nhà nuôi mấy con gà ở ngoài ấy cho đỡ phá vườn. Tôi không nói gì. Nhưng tôi đã thấy bà múc vào cặp lồng một bát cơm đầy, một khúc cá kho, và một ngăn canh mồng tơi còn bốc khói. Tôi chưa thấy nhà ai cho gà ăn canh.
Tôi đóng va-li lại, kéo khoá về bên trái, rồi sang xưởng.
Xưởng sáng thứ Hai ồn hơn mọi hôm. Xe tải đến từ sáu giờ, xếp hàng đi Hà Nội. Chị Nụ để tôi ngồi cạnh, giao cho một khung ngựa nhỏ đã buộc xong, dạy tôi dán lớp giấy lót. Quét hồ lên nan, không quét lên giấy. Đặt giấy từ bụng lên lưng, vuốt bằng lòng bàn tay, không bằng ngón tay, ngón tay để lại vết. Chỗ nào nhăn thì đừng gỡ ra, cứ thế dán tiếp, lớp sau sẽ che lớp trước. Tôi làm được. Ở phòng tu bổ, tôi dán những mảnh giấy mỏng hơn thế này nhiều, lên những tờ thư cổ chỉ cần thở mạnh là bay. Chị Nụ nhìn tay tôi, gật gù.
– Tay họ Nghiêm có khác. – Chị cười. – Bà Mận ngày trước cũng thế. Còn bà Đào thì thôi rồi, cả làng không ai bằng. Ngựa bà Đào làm, người Hà Nội về tận nơi đặt.
– Chị biết dì con hả?
– Biết gì đâu. Năm ấy chị mới mười một tuổi. Chỉ nhớ bà ấy đẹp, hay mặc áo trắng, đi đâu cũng hát. – Chị Nụ ngừng tay, nghĩ một chút. – À, bà ấy hay vẽ mắt ngựa kiểu lạ lắm. Không vẽ chấm tròn như người ta. Vẽ cái nét cong cong, như ngựa đang ngủ. Ông Khang mắng mãi, bảo vẽ thế không ai mua.
Tay tôi dừng lại trên lớp giấy.
– Vẽ như ngựa đang ngủ hả chị?
– Ừ. Mà thôi, chị nhớ nhầm cũng nên. Ba mươi năm rồi.
Tôi cúi xuống vuốt lớp giấy, vuốt mãi chỗ đã phẳng. Một bàn tay vẽ ngựa ngủ, ba mươi năm trước. Một bàn tay vẽ ngựa ngủ, tháng này.
Người chết không vẽ được. Vậy thì còn có ai đó đã học kiểu vẽ ấy. Một người thân với dì đủ để học từng nét. Một người biết thắt lạt hai vòng, biết cắt bờm mười một răng, biết cả cái chân sau bên trái ngắn một li. Tôi nhìn quanh xưởng. Hai mươi mấy người thợ, đa số đàn bà, người nào cũng cúi đầu trên một cái khung. Bà Tần không ở đây. Bà Tần sáng nay đã ra bãi từ lúc trời chưa sáng, với một cặp lồng cơm có canh.
Gần trưa, Tú xuống xưởng, tay cầm cái điện thoại gắn trên một cây gậy nhỏ, quay những người thợ đang làm. Nó bảo nó có một kênh video về nghề mã, mấy chục nghìn người theo dõi, chủ yếu người nước ngoài thích xem. Nó quay chị Nụ cắt bờm, quay ông thợ già vót nan, quay cái nồi hồ sôi lục bục. Rồi nó đi tới chỗ tôi, hạ điện thoại xuống.
– Chị Lam, – nó nói, nhỏ, mắt liếc về phía cửa văn phòng. – Chị ở trong Sài Gòn có hay nhận bưu phẩm không?
Tôi ngẩng lên.
– Sao em hỏi vậy?
Tú mở miệng định nói tiếp. Đúng lúc ấy cửa văn phòng mở, cậu Lộc bước ra, tay cầm cặp tài liệu, nói điện thoại rất to về chuyện tiền cọc. Thằng bé giật mình, đưa điện thoại lên quay tiếp, như thể nó chưa từng dừng lại.
– Không có gì đâu chị. Em hỏi vu vơ.
Nó đi sang dãy bên kia. Tôi nhìn theo lưng nó, cái lưng gầy, hai bả vai nhô lên dưới lớp áo phông in hình con mèo. Người gửi đề chữ "Ng." Nghiêm cũng là "Ng." Cả nhà này ai cũng là "Ng."
Trưa, mợ Thoa sang gọi tôi ăn cơm. Cậu Lộc vừa lái xe đi Hà Nội giao hàng, ông ngoại đã được mợ bón cháo, Tú mang bát lên phòng, nên trên bàn chỉ có hai mợ cháu. Một đĩa thịt luộc, một bát canh cua rau đay, một đĩa đậu rán. Mợ gắp cho tôi miếng thịt, rồi đặt đũa xuống, nhìn tôi ăn.
– Cô ở trong ấy làm nghề gì nhỉ? Sửa giấy à?
– Dạ, phục chế giấy cũ. Sách, thư, bản đồ, giấy tờ người ta gửi bảo tàng.
– Thế thì cô đọc giấy tờ giỏi lắm. – Mợ cười, cái cười chỉ ở môi. – Mẹ cô đi có để lại gì không? Giấy tờ nhà cửa, di chúc, thư từ gì đấy?
– Mẹ con đi thuê nhà, mợ. Không có gì để lại.
– Thế à. – Mợ múc canh cho tôi, múc rất đầy. – Mợ hỏi thế thôi. Nhà này ai cũng có mồm cả, mai kia người làng hỏi thì mợ còn biết đường mà nói. Cô về đúng lúc lắm đấy. Ông có cái bãi ngoài sông, sắp vào dự án làm kè, người làng đồn ầm lên là nhà này sắp có tiền tỷ. Rồi bây giờ lại thêm cô cháu Sài Gòn về. Người ta nói ra nói vào, cô hiểu không?
– Con không về vì đất, mợ.
– Mợ có bảo cô về vì đất đâu. – Mợ đứng dậy dọn bát của mình, dù trong bát vẫn còn cơm. – Mợ chỉ bảo người ta nói thế. Mợ thì mợ không tin ma, cũng không tin lời đồn. Mợ tin giấy trắng mực đen.
Tôi nhìn theo mợ đi xuống bếp, tiếng dép lẹp xẹp trên nền gạch bóng. Mợ không hỏi tôi đêm qua ngủ có ngon không. Mợ cũng không hỏi tôi va-li có nặng không. Có lẽ vì mợ đã biết.
Chiều, khi nắng đã ngả, tôi đi thăm mộ.
Không ai dẫn tôi. Tôi hỏi bà Tần, bà bảo mai bà đưa đi, hôm nay bà mệt. Sáng nay tôi đã hỏi cậu Lộc, anh ta bảo cuối tuần, mấy hôm nay hàng nhiều. Tôi không chờ được. Tôi nhớ chỗ cậu Lộc chỉ hôm ở trên xe, cánh đồng sau làng, có một cái gò nổi lên giữa ruộng, trên gò mấy ngôi mộ quét vôi trắng. Tôi đi theo bờ ruộng mà đến.
Lúa mùa đang thì con gái, xanh mướt tới tận chân trời, gió lướt qua là cả đồng lúa rạp xuống một lượt rồi đứng lên, như có cái gì lớn vừa chạy qua bên dưới. Nước trong ruộng ấm, có những con cò trắng đứng một chân. Bờ ruộng hẹp, trơn, tôi phải dang tay mà đi. Giữa đường tôi gặp một bà cụ đội nón, gánh hai bó rau muống, đi ngược chiều. Bà dừng lại, đặt gánh xuống bờ cho tôi tránh, nhìn tôi từ đầu tới chân. "Cô ra gò nhà ông Khang à? Chạng vạng rồi, viếng nhanh mà về, đừng ngồi lâu ngoài ấy." Tôi hỏi vì sao. Bà cụ chỉ nhấc gánh lên vai, bảo tháng Bảy rồi, rồi đi, cái đòn gánh kĩu kịt sau lưng. Đi chừng mười lăm phút nữa thì tôi tới gò.
Gò mộ họ Nghiêm không lớn. Mười mấy ngôi mộ, có ngôi xây cao, có ngôi chỉ là nấm đất có viên gạch cắm đầu. Ở giữa là mộ tổ, xây kiểu nhà có mái, quét vôi vàng. Tôi đi chậm từng ngôi, đọc tên trên bia. Nghiêm Văn Cẩn. Nghiêm Thị Thêu, ngôi mộ nhỏ nhất, chỉ một tấm bia đá đã mòn gần hết chữ. Phạm Thị Xuyến, bà ngoại tôi, mất năm hai nghìn không trăm mười.
Rồi tôi thấy dì Đào.
Ngôi mộ ở rìa gò, phía nhìn ra sông, xây gạch, trát xi măng, quét vôi trắng đã ngả xám. Bia đá xanh, chữ khắc sâu, tô sơn đỏ: "Nghiêm Thị Đào. Sinh năm Ất Mão 1975. Mất rằm tháng Bảy năm Bính Tý." Không có ảnh. Một ngôi mộ gió. Bên trong không có ai.
Nhưng có người đã đến đây trước tôi. Trên mặt mộ có một chùm nhãn lồng tươi, vỏ còn vàng, cuống còn xanh, đặt trên một chiếc lá chuối. Trong bát hương có ba chân nhang còn mới, tàn chưa bị mưa rửa. Và cạnh chùm nhãn là một cái lược nhựa màu hồng, loại lược chải đầu bán ngoài chợ mười nghìn một cái, răng còn nguyên, chưa ai dùng.
Ai lại mang lược cho một người chết đuối?
Tôi ngồi xổm xuống, nhìn cái lược mà không chạm vào. Tôi nghĩ tới bà Tần với cặp lồng cơm. Tôi nghĩ tới người đàn ông tên Thạc với ngón tay cụt, cái nhìn như bị ai đánh vào mặt. Tôi nghĩ tới câu của chị Nụ: bà ấy đẹp, hay mặc áo trắng, đi đâu cũng hát. Tôi thử nghĩ dì mình như một người con gái hai mươi mốt tuổi đứng ở đây, tóc dài, chải bằng một cái lược như thế này. Tôi không nghĩ ra được mặt dì. Tôi chỉ nghĩ ra mặt mẹ.
Nắng đã xuống thấp, đỏ như lòng đỏ trứng, treo lơ lửng trên mặt sông. Muỗi bắt đầu bay lên từ ruộng. Tôi đứng dậy, phủi đầu gối, định về.
Lúc ấy tôi mới thấy ngôi mộ bên cạnh.
Nó nằm sát mộ dì Đào, sát tới mức hai bờ tường mộ gần như chạm nhau. Tôi đã đi ngang qua nó lúc nãy mà không để ý, vì nó trông như một công trình chưa xong. Xi măng còn mới, màu xám xanh, chưa quét vôi. Mặt mộ ốp gạch men trắng, mấy viên còn dính băng keo giấy của thợ. Phía đầu mộ có một cái hộc nhỏ vuông vức, cỡ vừa một cái hũ, nắp đá đặt nghiêng bên cạnh, lòng hộc còn trống trơn. Loại mộ người ta xây để đặt tro cốt.
Bia đá đã khắc. Chữ còn trắng, chưa tô sơn. Tôi đọc nó hai lần, vì lần đầu đầu óc tôi không chịu hiểu.
"Nghiêm Thị Mận. 1972 – 2026."
Tên mẹ tôi. Năm mẹ tôi mất. Khắc sẵn trên một tấm bia đá, giữa một cánh đồng mà tới chiều nay tôi chưa từng đặt chân tới. Cạnh một ngôi mộ không có người. Chờ một hũ tro còn đang nằm trong một ngôi chùa ở Gò Vấp, cách đây một nghìn bảy trăm cây số.
— Hết chương 5 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe