Chương 10: Lệ năm Bính Ngọ
Bà Tần không gọi cậu Lộc đưa tôi ra sân bay. Cả tối thứ Sáu bà không nói với tôi một câu nào, nhưng bà vẫn dọn mâm cơm cho hai bà cháu, vẫn gắp cho tôi miếng cá ngon nhất, vẫn bóc nhãn bỏ vào bát tôi. Lúc tôi đứng dậy, bà nhìn cái vệt bỏng trên mu bàn tay tôi, rồi đi vào buồng. Lát sau bà mang ra một cái lọ thuỷ tinh nhỏ đựng thứ dầu gì đó màu vàng sánh, đặt lên mâm, không nói gì. Dầu mù u, mùi hăng hắc. Tôi bôi lên chỗ bỏng. Sáng ra nó đã đỡ rát.
Chín giờ sáng thứ Bảy, Tú chạy sang, mồ hôi nhễ nhại.
– Chị Lam, cụ Tần, ông bảo sang ngay. Ông tỉnh. Ông gọi cả ông từ sang rồi.
Phòng khách nhà cậu Lộc hôm ấy đông như có giỗ. Ông ngoại ngồi xe lăn ở giữa, lưng thẳng hơn mọi hôm, có người đã cạo râu cho ông, chải đầu cho ông, mặc cho ông cái áo sơ mi trắng cài kín cúc cổ. Bàn tay phải của ông vẫn co quắp trên tay vịn, nhưng mắt ông sáng. Cậu Lộc ngồi bên phải ông, mợ Thoa ngồi bên trái. Ông từ Nhự ngồi trên cái ghế gỗ đối diện, cặp kính lão trễ xuống sống mũi, tay cầm chén chè. Tú đứng ở chân cầu thang. Bà Tần không ngồi, bà đứng sau lưng tôi, sát tới mức tôi nghe thấy tiếng bà thở.
– Ngồi đi, – ông ngoại nói với tôi. Chữ của ông vẫn méo, nhưng hôm nay không đứt. – Lam. Ngồi gần ông.
Tôi ngồi xuống cái đôn sứ cạnh xe lăn.
Ông nói chậm. Mỗi câu ông phải dừng lại thở một lúc, nước dãi ứa ra khoé miệng bên phải, mợ Thoa lấy khăn lau, ông gạt tay mợ ra. Nhưng ông nói được hết. Ông nói rằm tháng Bảy năm nay là năm Bính Ngọ, lễ ở miếu Cô phải làm lớn. Ông nói ông là trưởng họ, ông phải làm con ngựa trắng cho Cô, nhưng tay ông chết rồi. Ông giơ cái bàn tay phải co quắp lên một chút, như cho cả phòng xem, rồi để nó rơi xuống.
– Ông từ, – ông nói. – Lệ năm Bính Ngọ thế nào, ông nói cho con cháu nhà tôi nghe.
Ông Nhự đặt chén chè xuống, hắng giọng.
– Theo hương ước cũ của làng, ghi từ đời cụ Cẩn, năm nào có chữ Bính thì trưởng họ Nghiêm làm ngựa cho Cô. – Ông nói như đọc. – Riêng năm Bính Ngọ, năm Cô đi, thì con ngựa phải do tay con gái họ Nghiêm làm. Vì Cô là con gái. Con gái làm khung, dán giấy. Trưởng họ thì điểm mắt.
– Năm Bính Ngọ trước ai làm hả ông? – tôi hỏi.
Ông Nhự nhìn qua vai tôi, nhìn bà Tần.
– Năm sáu mươi sáu thì cụ Tần làm. Cụ Tần năm ấy hai mươi hai tuổi. Tôi còn bé, tôi chỉ nhớ con ngựa cao lắm, trắng lắm.
Sau lưng tôi, tiếng thở của bà Tần ngừng lại. Tôi không quay lại. Tôi chỉ thấy bóng bà in trên nền gạch bóng, cái bóng còng gập, không nhúc nhích.
– Năm nay, – ông ngoại nói, – con Lam làm.
Cả phòng im. Cái quạt trần quay vù vù trên đầu.
– Bố. – Cậu Lộc lên tiếng đầu tiên, giọng nhẹ nhàng như dỗ trẻ con. – Cháu nó ở Sài Gòn, có biết làm ngựa bao giờ đâu. Cháu nó về chơi mấy hôm rồi lại đi. Để con làm. Con điểm mắt cho. Con là con trai trưởng, con điểm thì cũng như bố điểm.
– Mày không được.
Ông nói ba chữ ấy không to, nhưng rõ. Rõ nhất trong cả buổi sáng. Cậu Lộc mở miệng định nói tiếp, rồi thôi. Tôi thấy hai bàn tay anh ta đặt trên đùi nắm lại, rồi lại mở ra, rất từ từ, như người đang tự bảo mình bình tĩnh.
– Bố nói thế cả làng người ta cười cho, – mợ Thoa không nhịn được. – Con trai trưởng ngồi đấy mà để cháu ngoại làm, lại là đứa ba mươi năm mới về một lần.
– Con Lam là con gái họ Nghiêm. – Ông ngoại không nhìn mợ. Ông nhìn tôi. – Nó mang họ Nghiêm. Tay nó là tay họ Nghiêm. Nó làm. Nó điểm.
– Nhưng lệ là trưởng họ điểm mắt, – ông Nhự nói, giọng ngập ngừng.
– Thì tôi là trưởng họ. Tôi bảo nó điểm thay tôi. – Ông thở một hơi dài. – Còn một việc. Rằm này tôi ra miếu. Tôi có chuyện phải nói với làng.
– Ông nói chuyện gì? – ông Nhự hỏi.
– Chuyện nhà tôi.
– Bố mệt rồi đấy. – Cậu Lộc đứng dậy, vòng ra sau xe lăn. – Bố nói nhiều quá rồi. Bố vào nằm nghỉ đã, chuyện rằm còn hơn hai tuần nữa, mình bàn sau.
Ông ngoại không cãi. Có lẽ ông không còn sức để cãi. Nhưng lúc cậu Lộc xoay xe lăn đi, ông đưa bàn tay trái ra, chạm vào đầu gối tôi, giữ lại ở đó một giây.
– Con làm cho ông, – ông nói. – Con làm cho dì.
Rồi xe lăn đi vào phòng, cánh cửa khép lại sau lưng hai cha con.
Ông Nhự đứng dậy, chắp tay sau lưng, nhìn tôi rất lâu qua cặp kính lão.
– Ngựa cho Cô năm Bính Ngọ phải cao một thước tám, – ông nói, như đọc lại một điều khoản. – Trắng toàn thân, không được một sợi chỉ màu, không dát giấy trang kim. Phải xong khung xong giấy trước đêm mười bốn. Đêm rằm mang ra miếu, đặt trước cửa Cô, trưởng họ điểm mắt ở đấy, điểm xong thì đốt ngay. Không được điểm ở nhà. Điểm ở nhà là ngựa đi lạc.
– Dạ.
– Cháu có làm được không?
Tôi nhìn xuống hai bàn tay mình. Hai bàn tay đã khâu lại những tờ giấy mỏng như cánh chuồn, đã ghép lại những tấm bản đồ rách thành trăm mảnh. Hai bàn tay chưa từng buộc nổi một cái khung ngựa.
– Con làm, – tôi nói. – Nếu bà Tần dạy con.
Tôi quay lại. Bà Tần vẫn đứng đó, chỗ cũ. Mặt bà xám ngoét, môi bà mím chặt tới mức màu trầu đỏ không còn thấy nữa. Bà nhìn tôi, nhìn cánh cửa phòng ông ngoại, nhìn ông Nhự. Rồi bà gật đầu. Chỉ một cái, rất khẽ.
Lúc ra về, mợ Thoa tiễn tôi tới cổng. Mợ không cười nữa.
– Cô định ở tới rằm thật à?
– Dạ.
– Ừ. – Mợ khoanh tay. – Thế thì cô nhớ cho mợ một câu. Nhà này không phải sân khấu. Ông nói gì thì ông nói, nhưng người phải sống với cái làng này sau rằm là mợ, là thằng Tú, chứ không phải cô.
Mợ quay vào. Tú đứng sau cánh cổng sắt, nghe hết. Nó nhìn tôi, mấp máy môi như muốn nói một chữ gì, rồi lại thôi.
Chiều hôm ấy trời đổ mưa giông. Mưa trắng xoá cả sân, nước từ mái ngói chảy xuống thành những sợi dây bạc, đập vào nền gạch lộp độp. Bà Tần không ra bãi. Lần đầu tiên tôi thấy bà không ra bãi lúc chiều. Bà ngồi trên chõng ngoài hiên, nhìn mưa, tay lần một tràng hạt gỗ đã mòn bóng. Tôi ngồi đối diện bà, không ai nói gì. Tới lúc mưa ngớt, khoảng sáu giờ, bà mới đứng dậy, xách cái cặp lồng, đội cái nón lá, đi ra cổng. Bùn trên dốc đê trơn như mỡ. Tôi đứng nhìn cái nón lá nhấp nhô trên mặt đê rồi khuất xuống phía bãi.
Mười giờ đêm, có người gõ cửa.
Không phải cửa sổ. Cửa chính, cánh cửa bức bàn bằng gỗ ở gian giữa. Ba tiếng gõ đều, lịch sự. Rồi giọng cậu Lộc, không to, vừa đủ cho tôi nghe mà không đủ đánh thức bà Tần.
– Lam ơi, cậu đây. Cháu ngủ chưa?
Tôi ra mở cửa. Anh ta đứng ngoài hiên, mặc áo phông, quần soóc, đi dép tổ ong, tay cầm một cái phong bì. Cái bóng đèn sợi đốt trên hiên đung đưa vì gió, ánh vàng chao qua chao lại trên mặt anh ta. Lúc ánh đèn hắt từ dưới lên, tôi thấy rõ vết sẹo dưới cằm, cong như cái móc câu, trắng hơn hẳn da xung quanh.
– Cậu nói với cháu mấy câu thôi, – anh ta nói. – Ra hiên ngồi.
Chúng tôi ngồi trên cái chõng tre của bà Tần. Ngoài sân, nước mưa còn đọng trong những chỗ gạch lõm, phản chiếu ánh đèn. Ếch nhái kêu inh ỏi, như cả cánh đồng vừa được tắm. Anh ta đặt cái phong bì lên chõng, giữa hai chúng tôi, nhưng chưa nói gì về nó.
– Hồi bé, mẹ cháu cõng cậu đi học, – anh ta nói, mắt nhìn ra sân. – Trường cách đây hai cây, đường đê lầy, mưa là cậu không đi nổi. Chị Mận cõng. Chị Đào thì chạy trước, cầm cái ô lá cọ che cho cả ba. Năm cậu chín tuổi, cậu cưỡi trâu ngã xuống bờ mương, rách cằm, máu chảy ướt cả áo. Chị Đào cõng cậu chạy một mạch lên trạm xá. Từ đấy chị gọi cậu là thằng Sẹo. Cả làng gọi theo. – Anh ta đưa tay sờ cằm, cười. – Lớn rồi thì người ta không gọi nữa. Chỉ có chị Đào gọi.
Tôi nhìn vết sẹo, rồi nhìn sang anh ta. Anh ta đã thôi cười.
– Thôi, chuyện cũ. – Anh ta đẩy cái phong bì về phía tôi một chút.
– Trong này là giấy cậu đã ký, chuyển ba trăm triệu vào tài khoản cháu. Cháu đưa số tài khoản, mai cậu ra ngân hàng làm. – Anh ta nói, giọng đều, như đọc hợp đồng. – Kèm vé máy bay chiều thứ Ba, cậu đặt rồi, cháu chỉ việc đi. Gọi là phần của mẹ cháu. Sau này ông có chia thì ông cũng chia thế. Cậu đưa trước, cho cháu khỏi phải chờ.
Tôi không chạm vào cái phong bì.
– Đổi lại cái gì cậu?
Anh ta cười. Một cái cười mệt.
– Cháu thông minh, cậu nói thẳng. Cậu xin cháu về Sài Gòn trước rằm. Cháu cứ bảo cơ quan gọi về gấp. Ông giận một hôm rồi ông quên. Ông bây giờ, sáng nhớ chiều quên.
– Sáng nay ông nhớ lắm mà cậu.
– Sáng nay là một sáng. – Anh ta nhìn ra sân. – Cháu nghe cậu này. Ông bị tai biến một lần rồi, lần nữa thì không biết thế nào. Ông cứ đòi rằm này ra miếu nói chuyện với làng. Ông mà ra đấy, đứng trước cả mấy trăm con người, nói lung tung những thứ ông tự nghĩ ra trong đầu, thì nhà mình mất hết. Mất mặt. Mất cả đất. Cái bãi đang vào dự án, người ta đang chờ có chuyện để mà nói. Cậu không để bố cậu làm trò cười cho cả làng được.
– Ông định nói chuyện gì?
Anh ta không trả lời ngay. Anh ta tháo kính ra, lấy vạt áo phông lau mắt kính, rất lâu, giống hệt cách ông từ Nhự lau kính hôm ở miếu, cách của những người cần thêm vài giây để chọn chữ. Rồi anh ta đeo kính lại, nhìn thẳng vào tôi.
– Chuyện dì Đào chết thế nào.
— Hết chương 10 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe