Chương 4: Miếu Cô
Miếu Cô nhỏ hơn tôi tưởng. Một ngôi miếu mái cong lợp ngói vảy cá, rộng chừng hai chiếc chiếu, tường quét vôi vàng đã loang lổ rêu, nép dưới gốc một cây gạo già to tới mức bốn người ôm không xuể. Rễ cây gạo trồi lên khỏi mặt đất, ôm lấy cả cái nền miếu, như một bàn tay lớn đang nâng ngôi miếu lên khỏi mặt nước.
Tôi ra đó lúc bảy giờ sáng Chủ nhật, đi bộ dọc mặt đê. Cả đêm qua tôi không ngủ được. Không có tiếng giấy nào ngoài cửa sổ, nhưng tôi nằm chờ nó tới sáng. Còn cổ tay tôi, chỗ ông ngoại nắm, sáng nay vẫn còn bốn vết đỏ mờ.
Đừng mở mắt nó. Tôi đã nghĩ về câu ấy suốt đêm mà không hiểu nó là gì. Mở mắt ai? Con ngựa nào?
Từ mặt đê nhìn xuống, bến Vó là một bậc gạch dài chạy xiên ra sông, những bậc dưới đã chìm trong nước đỏ. Nước lên cao lắm, ngập tới gốc mấy cây chuối ở mép bãi. Ba bốn chiếc vó bè dựng trên bờ, cần tre dài vươn ra mặt nước, lưới vó căng như những cánh dơi khổng lồ. Gió sông thổi lên mát rượi, có mùi bùn, mùi cỏ dại, mùi nhang. Trước cửa miếu, một ông cụ đang quét lá gạo khô bằng cái chổi rễ.
Ông cụ trạc bảy mươi, tóc hoa râm chải ngược, đeo cặp kính lão gọng nhựa nâu, mặc bộ quần áo lụa màu ghi đã sờn. Thấy tôi, ông dựng chổi vào gốc cây, lau tay vào vạt áo.
– Cháu là cháu ông Khang phải không? – Ông nói chậm, rõ từng chữ, kiểu người đã đứng lớp nhiều năm. – Tôi là Nhự, trông miếu này. Ngày trước dạy văn ở trường cấp hai xã. Cả làng gọi là ông từ.
– Dạ, con chào ông. Con là Lam.
– Lam. – Ông gật gù. – Tên đẹp. Ai đặt cho cháu đấy?
Tôi không trả lời được. Tôi chưa từng nghĩ tới câu ấy. Tôi luôn tin là mẹ đặt.
Ông Nhự cũng không chờ tôi trả lời. Ông mở cửa miếu cho tôi xem. Bên trong tối và mát, mùi nhang trầm quyện mùi gỗ mục. Trên bàn thờ đặt một bát hương đồng, hai cây đèn dầu, một bình hoa huệ đã héo, và một cái khám nhỏ sơn son, cửa khám đóng. Hai bên bàn thờ là la liệt ngựa giấy nhỏ, đủ màu, con nào cũng chừng gang tay, người làng mang tới cúng. Ngoài sân, sát chân tường miếu, có một cái lư đốt vàng mã xây bằng xi măng, miệng lư đen nhẻm.
– Cô ở trong khám, – ông Nhự nói. – Không có tượng. Chỉ có cái bài vị. Cô Nghiêm Thị Thêu. Là người họ nhà cháu đấy.
Rồi ông kể. Ông kể như đọc một bài giảng đã soạn kỹ, giọng lên xuống có chỗ ngừng, chỗ nhấn, nhưng tôi nhận ra có một chỗ ông không giảng được: lúc ông nhắc tới tên những người đã chết.
Năm Bính Ngọ 1906, cụ Nghiêm Văn Cẩn là trùm phường mã làng này, có cô con gái tên Thêu, mười bảy tuổi, khéo tay nhất làng, làm ngựa đẹp tới mức người trên phủ cũng về đặt. Năm ấy nhà cụ mắc nợ một ông bá hộ bên kia sông. Ông bá hộ đã sáu mươi, có ba bà vợ, đòi lấy cô Thêu làm lẽ thứ tư để trừ nợ. Cụ Cẩn bằng lòng. Đêm rằm tháng Bảy, đêm trước ngày đưa dâu, cô Thêu ra bến Vó, trầm mình xuống sông.
– Người ta bảo, – ông Nhự nói, – trước khi đi, cô làm một con ngựa trắng, vẽ mắt nhắm, đặt trước cửa buồng bố. Cô không cưỡi ngựa sang nhà người ta. Cô cưỡi về với sông.
Sau đó làng lập miếu ngay chỗ bến cô đi, dưới gốc gạo. Và có lệ: mỗi năm đêm rằm tháng Bảy, trưởng họ Nghiêm phải tự tay làm một con ngựa trắng, điểm mắt mở. Ngựa ấy mang ra miếu đốt trước tiên, trước mọi lễ vật của cả làng, để Cô có ngựa mà đi. Năm nào có chữ Bính thì lễ phải to hơn, ngựa phải cao hơn.
– Câu các cụ để lại thế này, – ông Nhự hắng giọng. – "Năm Bính lửa đòi. Ngựa trắng nhắm mắt đến cửa nhà ai, nhà ấy đi một người."
Ông đọc tiếp danh sách. Không cần giở giấy, không cần nhìn đâu. Như một người điểm danh lớp học đã thuộc tên từng đứa.
Năm Bính Ngọ 1966, anh Phí Văn Hoè hai mươi lăm tuổi chèo thuyền chở lễ giữa mùa lũ, thuyền lật, chết đuối đêm mùng mười tháng Bảy. Năm Bính Thìn 1976, thằng Lã Văn Bỉm bảy tuổi chết đuối ở ao làng, mùng chín tháng Bảy.
– Bỉm là em út tôi, – ông Nhự nói, giọng không đổi. – Tôi hai mươi mốt tuổi, đang học sư phạm trên tỉnh. Tôi về đến nơi thì nó nằm trên cái chiếu ngoài sân rồi. Sáng hôm ấy mẹ tôi thấy một con ngựa trắng ở bờ ao. Mẹ tôi đốt đi, nhưng không kịp.
Tôi không biết nói gì. Ông cũng không cần tôi nói. Ông đọc tiếp. Năm Bính Dần 1986, bà Đỗ Thị Nhạn sáu mươi tuổi chết cháy trong kho mã nhà mình đêm mười bốn tháng Bảy. Năm Bính Tý 1996, cô Nghiêm Thị Đào hai mươi mốt tuổi chết đuối đêm rằm. Năm Bính Tuất 2006, anh Cấn Văn Lực đi xe máy đêm mưa ngâu, lao xuống chân đê. Năm Bính Thân 2016, ông Phí Văn Tường bảy mươi tuổi chết trong giấc ngủ đúng đêm rằm.
– Dì con chết ở đây hả ông? – tôi hỏi, nhìn ra bậc gạch chìm trong nước.
– Không. Ở bến Cát. – Ông chỉ tay xuôi theo dòng sông, về phía một rặng chuối xa xa. – Cách đây chừng cây rưỡi. Chỗ ấy là bãi nhà cháu, có cái kho phơi mã cũ của ông Khang. Đêm ấy cả làng ra đây làm lễ. Không ai biết cô Đào ra bến Cát làm gì. Sáng ra người ta thấy chiếc dép của cô trên bậc bến. Cả làng mò sông ba ngày, không thấy. Sông Hồng mùa lũ, cháu xem, nó cuốn cả trâu.
– Không tìm được dì con?
– Không. Ông cháu làm mộ gió.
Tôi biết mộ gió là gì. Ở bảo tàng có lần tôi phục chế một tập văn tế của một làng chài miền Trung, trong đó có những bài khấn cho người chết ngoài biển. Người mất xác thì người ta đắp một nấm mộ không có thi thể, chôn vào đó một hình nhân, hoặc bộ quần áo, hoặc chẳng có gì cả, để hồn người chết có chỗ mà về. Dì Đào nằm trong một ngôi mộ không có dì.
– Năm ấy có ai thấy ngựa không ông?
Ông Nhự im một lúc lâu. Ông tháo cặp kính ra, lau bằng vạt áo.
– Năm ấy thì không ai thấy. – Ông đeo kính lại. – Nhưng năm sau, năm Đinh Sửu, mẹ cháu thấy. Sáng mười ba tháng Bảy, có con ngựa nhắm mắt ở bậu cửa buồng mẹ cháu. Tối mười bốn thì mẹ cháu bế cháu đi. Cả làng bảo cô Mận khôn. Đi được là thoát. Ba mươi năm cô ấy sống, có phải không?
Tôi nhìn ông. Cái bậu cửa ấy là cái bậu cửa sáng hôm qua.
Tôi đã định kể cho ông nghe. Tôi định nói con ngựa ấy lại về rồi, về ngay đêm đầu tiên con về, hồ còn ướt. Nhưng tôi nhớ tới cái giẻ lau nồi trong tay bà Tần, tới câu "không được nói với ai". Và tôi nhận ra, nhìn ông từ đang lau cặp kính tới lần thứ hai, rằng nếu tôi nói ra, tới trưa nay cả làng sẽ biết.
– Ông tin không ông? – tôi hỏi. – Chuyện năm Bính.
Ông Nhự nhìn ra sông. Một chiếc thuyền máy chạy ngược dòng, tiếng máy nổ phành phạch, khói đen phụt từng cụm.
– Tôi dạy văn ba mươi năm. – Ông nói. – Tôi dạy trò rằm tháng Bảy là lễ báo hiếu, là xá tội vong nhân, là cái đẹp của văn hoá. Tôi dạy chúng nó đừng mê tín. Rồi tối về tôi ra đây thắp hương cho em tôi. – Ông cười, một cái cười rất buồn. – Cháu bảo tôi tin hay không tin?
Gió đổi chiều. Cây gạo trên đầu xào xạc, lá khô rụng lả tả xuống mái miếu.
– Ông từ lại kể chuyện ma cho người ta nghe đấy à?
Giọng đàn ông, khàn, thô, vang lên sau lưng tôi. Tôi quay lại.
Một người đàn ông đứng cách tôi chừng mấy bước, ngay chỗ rễ cây gạo nhô cao nhất, như vừa từ dưới bến đi lên. Người gầy và đen, đen kiểu nắng sông ăn vào tận xương. Râu ria lởm chởm, tóc cắt sát, mặc một chiếc áo lính cũ đã bạc thành màu cỏ úa, quần xắn quá gối, chân đất. Vai ông vác một bó cần tre, tay xách một cái giỏ cá đan bằng nan. Tôi đoán ông chừng năm mươi lăm. Mắt ông thì như già hơn.
Ông nhìn tôi. Không phải cái nhìn của bà Tần, cái nhìn đo đạc. Cái nhìn của ông như người bị ai đánh vào mặt mà chưa kịp đau.
– Thạc, – ông Nhự nói, giọng nghiêm lại. – Cháu ông Khang đấy. Cháu Lam, con cô Mận.
Người đàn ông tên Thạc không chào. Ông đặt cái giỏ cá xuống rễ cây. Tôi thấy bàn tay trái của ông, ngón trỏ cụt mất một đốt, đầu ngón tròn và bóng như một cái cúc áo.
– Cô về làm gì? – ông hỏi tôi.
– Dạ, con về thăm ông ngoại.
– Thăm thì thăm. Thăm xong thì về đi.
– Thạc! – Ông Nhự gắt. – Ăn nói với người ta thế à?
Người đàn ông không nghe. Ông vẫn nhìn tôi, nhìn mãi, như thể nếu ông thôi nhìn, tôi sẽ biến mất. Rồi ông cúi xuống nhặt cái giỏ cá, vác bó cần lên vai, đi xuống phía bãi. Đi được chừng chục bước, ông dừng lại, không quay đầu.
– Đêm đừng ra bãi, – ông nói. Rồi đi tiếp, khuất sau những cây ngô cao.
Đó là lần thứ hai trong ba ngày có người dặn tôi câu ấy.
– Cháu đừng giận nó, – ông Nhự thở dài, nhặt cái chổi lên. – Thằng Thạc nó thế, không vợ không con, uống rượu suốt. Ngày xưa nó với dì cháu… – ông ngừng lại, như người đặt chân xuống một bậc thang không có. – Thôi. Chuyện người chết.
– Ngày xưa ông ấy với dì con làm sao ông?
– Thôi, cháu ạ. Ông Khang không muốn ai nhắc. Tôi già rồi, tôi giữ cái miệng.
Ông quét tiếp. Những nhát chổi đều đặn, sột soạt trên nền đất. Tôi đứng thêm một lúc rồi chào ông để về. Tôi đã quay lưng, đã bước lên bậc đầu tiên của con dốc đê, thì ông Nhự gọi với theo. Ông vẫn cầm chổi, đứng dưới gốc gạo, nhỏ thó giữa những cái rễ lớn.
– Cháu Lam này. Cháu ở chơi lâu không?
– Dạ, chắc qua rằm.
Ông gật đầu chậm rãi, như người nghe được câu trả lời mình sợ.
– Rằm này là đủ sáu mươi năm, – ông nói. – Từ cái năm Bính Ngọ anh Hoè đi. Các cụ bảo vòng giáp là Cô đòi người nhà. Cô sẽ đòi một người họ Nghiêm.
Ông nhìn tôi qua cặp kính lão, rồi đếm, như đã đếm nhiều lần lắm rồi trong đầu.
– Họ Nghiêm giờ còn ông Khang, cụ Tần, thằng Lộc, thằng Tú. – Ông ngừng một chút. – Với cháu.
— Hết chương 4 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe