Chương 28: Chấm mực ở cằm
Tôi không mở nó trong buồng. Dì Đào đang ngủ, và tôi không muốn dì thức dậy thấy tôi rạch bụng một con ngựa của dì.
Tôi mang cái hộp nhựa ra gian giữa, thắp ngọn đèn bàn cũ của bà Tần, cái đèn có chụp thuỷ tinh xanh. Hai giờ sáng ngày mười bốn tháng Bảy. Cả nhà ngủ. Ngoài sân, con ngựa lớn đứng dưới tấm bạt, trăng mười bốn rọi lên tấm bạt một màu bạc như sương muối.
Tôi trải tấm vải trắng lên mặt phản gian giữa. Tôi bày đồ nghề ra theo thứ tự, như mọi buổi sáng ở phòng tu bổ. Cái dao gạt bằng xương, cái nhíp, bình xịt sương, mấy tờ giấy thấm, một tờ giấy Nhật mỏng như cánh chuồn, cái kính lúp đeo đầu. Tôi đun một ấm nước trên bếp dầu của bà Tần, rót ra một cái bát sứ, để hơi nước bốc lên.
Rồi tôi lấy con ngựa ra khỏi hộp.
Hai mươi chín ngày rồi kể từ hôm tôi đặt nó lên lòng bàn tay dưới đèn bàn ở Sài Gòn. Hồ trên mép giấy đã khô hẳn, cứng lại. Giấy trắng đã ngả một chút, không còn thơm mùi hồ mới. Nhưng nó vẫn nặng không đều. Tôi đặt nó lên lòng bàn tay lần nữa. Phía bụng, bên trái.
Tôi lật nó nằm ngửa trên tấm vải. Dưới bụng con ngựa, tôi tìm được chỗ ấy ngay. Một ô giấy vuông bằng hai đốt ngón tay, dán chồng lên lớp giấy trắng xung quanh, mép hơi dày hơn, vì người dán đã vuốt bằng lòng bàn tay chứ không bằng ngón tay. Giống hệt cái ô dì Đào dán trước mắt tôi trong kho hôm mùng tám.
Ở phòng tu bổ, người ta dạy tôi rằng không có đường hồ nào không mở được, chỉ có người thợ không đủ kiên nhẫn. Hồ sắn khô là một lớp tinh bột cứng như vỏ trấu. Ép nó thì giấy rách. Cạy nó thì giấy rách. Nhưng hơi ẩm thì tinh bột chịu. Chỉ cần đủ ẩm, đủ lâu, nó sẽ mềm lại như hồi còn trong nồi.
Tôi cắt một dải giấy thấm vừa bằng mép ô giấy, nhúng vào nước ấm, vắt thật kiệt, đặt lên đường hồ. Phủ lên trên một lớp giấy Nhật cho hơi nước không thoát. Rồi tôi chờ.
Tôi chờ chừng mười phút. Tôi nghe đồng hồ treo tường của bà Tần đếm từng tiếng. Ngoài kia có tiếng con chó nào đó sủa hai tiếng rồi thôi. Tôi nhấc dải giấy thấm lên, chạm đầu dao gạt vào mép ô giấy. Nó đã mềm. Tôi luồn lưỡi dao xương vào giữa hai lớp, nghiêng, đẩy rất khẽ, từng li một. Chỗ nào còn cứng thì tôi dừng lại, đặt giấy thấm ẩm lên, chờ thêm. Đường hồ nhả ra từng chút, không một tiếng rách. Tôi làm như vậy quanh ba cạnh của cái ô vuông, chừa lại cạnh thứ tư, như người ta mở nắp một cái hộp mà không gỡ bản lề.
Ba giờ kém mười lăm, tôi nhấc mép ô giấy lên.
Bên trong, dán trên mấy cái nan bụng phía bên trái, là một viên sỏi nhỏ, nhẵn, màu nâu như đất bãi. Và nằm ngửa trên viên sỏi là một người giấy.
Tôi lấy cái nhíp, gỡ người giấy ra khỏi chỗ dán, không chạm vào viên sỏi. Tôi đặt nó lên tấm vải trắng dưới ngọn đèn. Tôi kéo kính lúp xuống mắt.
Người giấy này không cắt vội.
Mép kéo đều, hai tay hai chân cân nhau, như cắt theo một cái rập riêng. Tóc không phải một vệt mực quệt ngang, mà là những nét bút lông nhỏ xíu, vuốt từ đỉnh đầu sang hai bên, có một đường rẽ ngôi lệch về bên trái. Mặt có mắt: hai nét cong úp xuống, có mi, nhắm. Người giấy đang ngủ, như ngựa của dì. Có hai nét lông mày, một nét mũi, một nét miệng ngắn. Áo trắng là màu giấy, không tô. Dải giấy điều chéo ngực mảnh như sợi chỉ, từ vai trái xuống hông phải.
Và dưới cái nét miệng ngắn, ngay ở cằm, có một nét mực nữa.
Không phải chấm. Không phải vết nhoè. Một nét nhỏ, cong, đầu dưới quặt lên, mảnh như sợi tóc, vẽ bằng đầu ngọn bút lông, cẩn thận hơn mọi nét khác trên khuôn mặt ấy. Hình cái móc câu.
Tôi ngồi đó rất lâu. Ngọn đèn chụp xanh hắt lên tấm vải trắng một vòng sáng tròn, và trong vòng sáng ấy, người giấy bằng một đốt ngón tay nằm ngủ, cằm có một vết sẹo.
Tôi đã thấy vết sẹo ấy ngay buổi sáng đầu tiên tôi ra khỏi cửa ga đến ở Nội Bài, khi cậu Lộc cười. Trắng, dài chừng đốt ngón tay, cong như cái móc câu. Tôi đã thấy nó lần thứ hai dưới ngọn đèn sợi đốt đung đưa ngoài hiên nhà này, cái đêm anh ta mang phong bì ba trăm triệu sang. Năm chín tuổi cưỡi trâu ngã, rách cằm. Chị Đào cõng chạy lên trạm xá. Từ đấy chị gọi là thằng Sẹo. Chỉ có chị Đào gọi.
Tôi nhớ tiếng thét trong kho, tối thứ Bảy. Tôi đã nghĩ dì sợ đèn pin, sợ đồng phục, sợ người lạ. Dì đã không nhìn người lạ. Dì nhìn cái chỗ ở ngưỡng cửa, nơi cậu Lộc đứng, ánh đèn pin chúc xuống đất soi lên mặt anh ta từ dưới, làm cái sẹo dưới cằm trắng ra.
Tôi gập kính lúp lên, dụi mắt. Tôi chưa cho phép mình nghĩ tiếp. Ở phòng tu bổ, người ta không kết luận từ một nét mực. Người ta đối chiếu.
Bảy giờ sáng, Tú mang tấm ảnh sang.
Tôi đã nhắn cho nó lúc năm giờ: "Em mang giúp chị tấm ảnh bố em năm 18 tuổi trên tường phòng khách. Đừng để ai thấy." Nó không hỏi gì. Nó đến, áo khoác ngoài, tấm ảnh lồng khung gỗ giấu trong vạt áo, mặt trắng bệch. Bố nó đã đi từ sáu giờ, lên công an tỉnh làm việc tiếp, mẹ nó ở xưởng.
Tôi tháo tấm ảnh ra khỏi khung. Ảnh màu, rửa ở hiệu ảnh tỉnh năm chín sáu, giấy ảnh đã ngả vàng, mặt ảnh nổi những vệt bạc li ti ở mép. Một cậu trai gầy, tóc rẽ ngôi lệch về bên trái, áo sơ mi trắng, dải vải đỏ chéo qua ngực từ vai trái xuống hông phải, đứng trước một con thuyền kết hoa, nheo mắt vì nắng. Tôi đặt người giấy nằm cạnh tấm ảnh, trên tấm vải trắng, kéo kính lúp xuống.
Dưới cằm cậu trai trong ảnh, nắng chiếu xiên từ bên phải, có một vệt sáng nhỏ, mảnh, cong. Trên một tấm ảnh màu năm chín sáu, vết sẹo của một thằng bé chín tuổi ngã trâu bắt nắng, trắng hơn da xung quanh, như một nét phấn.
Đường rẽ ngôi lệch về bên trái. Dải đỏ từ vai trái xuống hông phải. Cái móc câu ở cằm.
Tú đứng sau lưng tôi. Nó nhìn qua vai tôi, nhìn tấm ảnh, nhìn người giấy. Nó không hỏi gì cả. Tôi nghe tiếng nó thở, rồi tiếng nó lùi lại, rồi tiếng nó ngồi phịch xuống bậc cửa gian giữa.
Tôi xếp lại từng thứ trong đầu, như người ta xếp lại một tập hồ sơ đã bị xáo tung.
Đêm rằm năm chín sáu, ông ngoại không rời miếu. Ông sai một đứa đội rước đứng gần đi tìm dì. Đứa ấy đuổi kịp dì ở bến Cát, khi dì đứng ở bậc thứ ba chờ thuyền. Dì ngã, đầu đập vào cọc tre, rơi xuống nước. Đứa ấy nhảy xuống, kéo dì lên, cõng dì vào kho, rồi chạy đi gọi bố. Cái dải vải đỏ bà Tần thấy quấn trên đầu dì đêm ấy, tôi biết nó từ đâu ra rồi. Đội rước đứa nào cũng đeo một dải chéo ngực. Ông ngoại đến sau nửa tiếng, ướt tới gối. Ông bảo bà Tần: tao lôi nó, nó ngã. Ông bảo bà Lý: thằng Lộc nhảy xuống vớt chị nó. Ông học thuộc một câu chuyện không phải của mình, và kể nó suốt ba mươi năm, kể cả với tôi, kể cả trong cái đêm cuối cùng ông còn nói được.
Không phải để che cho mình. Để che cho con trai mình.
Và dì Đào, người không còn nhớ đêm ấy, người đã mất tên người, mất ngày tháng, mất cả cái ngón tay cụt của người dì thương, vẫn giữ lại được một thứ. Cái móc câu dưới cằm. Ba mươi năm, trong bụng hàng trăm con ngựa, dì đặt thằng em út của mình nằm ngủ trên một viên sỏi sông, mặc áo đội rước. Tôi không biết dì sợ nó, hay thương nó, hay cả hai. Ngựa ngủ thì không ai phải đi. Có khi dì chỉ muốn đêm ấy ngủ yên trong bụng ngựa, không bao giờ thức dậy đi xuống bến Cát thêm lần nào nữa.
Tôi hiểu vì sao cậu Lộc đốt ngựa của dì. Mỗi con ngựa nhắm mắt trước cửa nhà anh ta là một lần đêm ấy quay về đứng trên bậc thềm. Tôi hiểu vì sao anh ta cần cái video biến mất, cái tấm ván mục bị đóng đinh, cái tên Nghiêm Thị Hoa, cái xe trắng trên đê. Tôi hiểu vì sao anh ta lo cái bãi hơn lo nợ. Kiểm đếm vào kho là có người đứng giữa hàng trăm con ngựa.
Và tôi hiểu vì sao con ngựa của mẹ tôi phải cháy. Con ngựa có sợi chỉ đỏ, dì làm tháng Chạp năm Bính Tý, gửi theo đứa con mới đẻ. Anh ta không biết trong bụng nó có gì. Anh ta không dám để ai biết.
Tôi đặt người giấy vào cái hộp nhựa, trên một lớp giấy lụa. Tôi dán lại cái ô bụng ngựa bằng một lớp hồ lúa mì mỏng, đúng chỗ cũ, không để lại dấu. Rồi tôi bưng cả tấm ảnh lẫn cái hộp nhựa vào buồng bà Tần.
Bà đang ngồi trên mép giường, vấn khăn. Bà nhìn tấm ảnh trên tay tôi trước. Bà biết tấm ảnh ấy. Tấm ảnh ông ngoại cho thằng con út chụp vì đỗ đại học. Rồi bà nhìn người giấy trong hộp nhựa.
Tôi không nói gì. Tôi đặt cả hai lên chăn, cạnh tay bà. Tôi đưa bà cái kính lúp.
Bà Tần không cầm kính lúp. Bà cúi sát xuống, sát tới mức mũi bà gần chạm vào người giấy, như người già vẫn làm khi không có kính. Bà nhìn rất lâu. Rồi bà đưa ngón tay cái cong vẹo vì thấp khớp, chạm thật khẽ vào cái cằm của người giấy, nơi có nét mực hình móc câu.
– Thằng Sẹo, – bà nói. Giọng bà khô như lá chuối héo. – Con Đào nó gọi thằng Lộc là thằng Sẹo.
Rồi bà ngẩng lên, nhìn ra cửa sổ, nhìn mãi về phía nhà cậu Lộc, cái nhà ba tầng ốp đá mà từ đây chỉ thấy được mỗi cái nóc.
– Anh tao nói dối tao. – Bà nói. – Ba mươi năm.
Bà không khóc. Bà ngồi thẳng lưng lên, thẳng hơn tôi từng thấy bà ngồi. Bà bắt tôi hứa một điều: để thằng Lộc tự nói. Rằm này ông ngoại định ra miếu nói thay con, giờ ông không nói được nữa. Để chính nó nói. Đừng để ai nói thay nó thêm một lần nào nữa.
Tôi hứa.
Cả ngày mười bốn, tôi làm nốt con ngựa lớn. Phết thêm một lượt hồ mỏng cho lớp giấy ngoài căng như mặt trống, buộc gia cố bốn khớp chân cho nó đứng vững giữa gió sông. Dì Đào ngồi trên bậc thềm vót nan cho những con ngựa nhỏ của dì, thỉnh thoảng ngẩng lên nhìn. Tới chạng vạng, con ngựa xong, đúng như ông từ dặn: trắng toàn thân, xong trước đêm mười bốn. Cậu Lộc không về nhà. Tú nhắn: bố em ở trên tỉnh tới tối, rồi ngủ lại viện với ông.
Năm giờ chiều ngày rằm, tôi sang nhà cậu Lộc.
Trống ở miếu Cô đã bắt đầu đánh từ lúc ba giờ, từng hồi dài, vọng dọc mặt đê. Người làng đã mặc áo đẹp, đã bưng mâm lễ đi ra phía bến Vó. Cổng sắt nhà cậu Lộc mở. Mợ Thoa đứng ở bậc thềm, tay khoanh trước ngực như hôm đầu tiên tôi về, nhưng mặt mợ không còn giữ của gì nữa. Mợ nhìn cái hộp nhựa trên tay tôi.
– Cậu con đâu mợ?
Mợ Thoa nhìn ra phía đê, phía bãi.
– Anh Lộc về từ trưa, – mợ nói. – Không vào nhà. Ngồi trong xưởng cả buổi, không nói với ai câu nào. Gần năm giờ thì lấy một can dầu hoả hai mươi lít, đi ra kho bãi.
— Hết chương 28 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe