Chương 11: Người đỡ đẻ xóm Đê
Cậu Lộc kể cho tôi nghe cái chết của dì Đào trong mười phút, trên chõng tre của bà Tần, dưới ngọn đèn sợi đốt đung đưa. Anh ta kể như người đã kể nhiều lần, ít nhất là trong đầu.
Năm chín sáu, dì Đào yêu một người ông ngoại không ưng. Ông cấm. Đêm rằm tháng Bảy, cả làng ra miếu, dì đòi đi đâu đó, ông không cho, hai bố con cãi nhau ngay ở sân nhà, ông tát dì một cái. Dì bỏ chạy. Sáng ra người ta thấy chiếc dép ở bến Cát.
– Ba mươi năm nay ông nghĩ ông giết chị, – cậu Lộc nói. – Cái tát ấy. Ông nghĩ chị chạy ra sông vì cái tát ấy. Lúc còn tỉnh, ông giữ trong bụng. Giờ đầu óc ông không giữ được nữa. Ông sẽ đứng ở miếu, trước mấy trăm con người, nhận là ông giết con gái mình. Người ta không cười đâu, cháu ạ. Người ta tin. Ở làng này, người ta tin những chuyện như thế hơn là tin giấy tờ.
Tôi nghe hết. Tôi không cầm cái phong bì. Tôi nói con chưa trả lời cậu được. Anh ta gật đầu như đã đoán trước, cầm phong bì lên, bỏ vào túi quần, đứng dậy.
– Cháu nghĩ đi. Còn hai hôm nữa mới tới thứ Ba.
Anh ta đi ra cổng. Tới cái cột cổng, anh ta dừng lại, nói vọng vào mà không quay đầu.
– Chuyện của người chết thì để người chết giữ, cháu ạ.
Câu chuyện của cậu Lộc có lý. Nó có lý từ đầu tới cuối, khít như một khung ngựa buộc chặt. Chỉ có một chỗ nó không chạm vào: một cô gái bị bố tát rồi chạy ra sông chết đuối thì không thể, gần năm tháng sau, ngồi viết tên tôi lên một tờ lịch.
Đêm ấy tôi không ngủ được. Tôi nằm nghe ếch nhái, nghe tiếng quạt cạch cạch, nghe tiếng xe tải trên đê. Hai giờ hơn, chó lại sủa. Lần này nó bắt đầu từ phía xóm Trong, chỗ nhà cậu Lộc, rồi lan dần ra chân đê, rồi chạy dọc xóm Đê về phía bến sông, từng nhà một, như đêm đầu tiên tôi về. Tôi nằm im, nhìn cánh cửa sổ đã cài then. Không có tiếng giấy nào. Không có tiếng cộc nào trên bậu. Tiếng chó xa dần, rồi tắt hẳn ở chỗ mặt đê đổ xuống bãi.
Sáng ra, bậu cửa sổ trống trơn. Chỉ có một vệt bùn nhỏ hình nửa bàn chân trên mép gạch dưới chân tường, chỗ con ngõ dốc lên đê. Có thể là của bất kỳ ai. Ở làng này ai cũng đi chân đất.
Sáng Chủ nhật, bà Tần dạy tôi vót nan.
Bà dẫn tôi ra bụi tre sau nhà, sát chân đê. Bà chọn cây, gõ gõ vào thân bằng sống dao, nghe tiếng, rồi mới bảo tôi chặt. Tre bánh tẻ, bà bảo, ba năm tuổi, non quá thì mềm, già quá thì giòn. Tôi chặt mất mười phút mới đứt một cây, hai bàn tay đã đỏ rần. Bà cưa thành từng khúc dài một thước, chẻ đôi, chẻ tư, rồi đưa cho tôi một con dao nhỏ lưỡi mỏng như lá lúa, cán gỗ mòn vẹt.
– Con dao này của con Đào, – bà nói. – Nó vót bằng con dao này từ năm mười hai tuổi.
Tôi cầm con dao. Cán dao mòn thành một cái rãnh nông, vừa khít ngón tay cái.
Bà dạy tôi ngồi xổm, kẹp thanh tre giữa hai đầu gối, lưỡi dao nghiêng, kéo về phía mình, không đẩy ra. Mỗi nhát vót đi một lớp mỏng như sợi miến. Nan làm chân phải dày bằng đầu đũa. Nan làm sườn mỏng hơn, dẻo, uốn cong được mà không gãy. Nan làm bờm thì mỏng như sợi chỉ. Tôi vót hỏng mười hai thanh trước khi được một cái nan bà chịu gật đầu. Tới trưa thì hai ngón tay trỏ của tôi đã phồng rộp.
Bà vót cạnh tôi. Bàn tay bà nhăn nheo, đốm đồi mồi, ngón cái cong vẹo vì thấp khớp, vậy mà lưỡi dao trong tay bà đi một mạch từ đầu nan tới cuối nan, không vấp lần nào. Bà không nhìn dao. Bà nhìn ra sân.
– Bà làm con ngựa năm sáu mươi sáu cũng bằng tre bụi này hả bà?
Tay bà dừng lại một nhịp.
– Bụi khác. Bụi ấy chặt rồi.
– Ông từ nói năm ấy anh Hoè mất.
Bà vót tiếp. Một sợi tre mỏng quăn lại, rơi xuống chân bà.
– Anh Hoè là chú ruột thằng Thạc. – Bà nói, giọng đều. – Nhà họ Phí ở xóm Bãi. Bà với anh ấy đã ăn hỏi rồi, định qua tháng Mười thì cưới. Năm ấy lũ to, to hơn năm nay. Hồi ấy lệ làng thả đèn đêm mùng mười tháng Bảy, trai làng chèo thuyền chở lễ ra giữa sông. Sau năm ấy làng mới dời sang đêm rằm. Anh ấy chèo. Thuyền lật ở chỗ xoáy gần bến Cát. Ba người trên thuyền, hai người bơi vào được. Anh ấy thì không.
– Con xin lỗi bà.
– Xin lỗi cái gì. Sáu mươi năm rồi. – Bà nhặt sợi tre quăn dưới chân lên, cuộn nó quanh ngón tay. – Từ năm ấy nhà họ Phí bảo nhà mình nợ họ một mạng. Ông mày bảo nhà họ Phí nợ nước, động vào là chết. Hai nhà không nhìn mặt nhau ba mươi năm. Thế rồi con Đào lại đi yêu thằng Thạc.
Đó là lần đầu tiên có người nói ra cái tên ấy cạnh tên dì. Tôi giữ yên con dao trong tay.
– Ông cấm hả bà?
– Ông mày cấm. – Bà buông sợi tre ra, nó bung lại thành một vòng xoắn. – Thôi, vót đi. Chiều còn phải chẻ lạt.
Tôi vót. Tôi để cho lưỡi dao kéo đi từng lớp tre mỏng, để cho tiếng dao sột soạt lấp đầy cái im lặng giữa hai bà cháu. Rồi tôi hỏi, hỏi như hỏi một chuyện vặt, mắt vẫn nhìn vào thanh tre.
– Hồi xưa làng mình ai đỡ đẻ hả bà?
– Bà Lý xóm Đê. Bà ấy làm ở trạm xá, đỡ cả làng. – Bà Tần quay sang nhìn tôi. – Mày hỏi làm gì?
– Con hỏi chơi. Mẹ con nói con sinh ngoài này.
Bà Tần nhìn tôi lâu tới mức tôi tưởng bà sẽ giật con dao khỏi tay tôi như đã giật mảnh lịch. Nhưng bà chỉ quay đi, vót tiếp.
– Mày sinh đâu thì mẹ mày biết. Mẹ mày mất rồi.
Chiều, lúc bà Tần ngủ trưa, tôi đi tìm nhà bà Lý.
Đi qua xóm Trong, tôi thấy mình bị nhìn. Ba hôm trước người ta nhìn tôi như nhìn khách lạ, tò mò, gật đầu chào. Hôm nay khác. Hai bà cụ ngồi bổ cau trước ngõ ngừng tay khi tôi đi qua, ghé tai nhau. Một người đàn ông đang dắt xe ra cổng thì dắt xe vào lại. Tới đầu xóm Đê, ba đứa trẻ con đang chơi bắn bi giữa đường, một đứa ngẩng lên nhìn tôi, rồi đứng bật dậy, vừa chạy vừa la: "Ma cô Đào! Ma cô Đào về!" Hai đứa kia chạy theo, cười rú lên, bi văng tung toé trên mặt đường. Một người mẹ thò đầu ra cửa quát con, rồi nhìn tôi, rồi đóng cửa lại.
Tôi đứng giữa đường, nhặt một viên bi thuỷ tinh lăn tới chân mình, đặt nó lên bậc cửa nhà người ta.
Xóm Đê là một dãy nhà chạy dọc chân đê, nhà nào cũng có một con dốc nhỏ lát gạch dẫn lên mặt đê, như những cái bậc thang. Hỏi ba người thì người thứ ba chỉ cho tôi. Nhà bà Lý là một căn nhà cấp bốn mái ngói, trước sân có giàn mướp, quả mướp dài lủng lẳng như những cái chày. Ngoài cổng có một cái biển gỗ đã bạc màu, sơn chữ trắng "Nữ hộ sinh", chữ đã tróc gần hết, không ai buồn gỡ xuống.
Bà Lý ngồi trên cái ghế mây ngoài hiên, quạt nan, cái đài bán dẫn đặt trên đùi đang phát một vở chèo. Bà gầy, tóc cắt ngắn, đeo một cái máy trợ thính màu da người ở tai trái. Tôi chào. Bà không nghe. Tôi chào to hơn. Bà vặn nhỏ cái đài, nhìn tôi qua cặp kính dày.
– Con nhà ai đấy?
– Dạ, con là Lam, cháu ông Khang ạ!
– Cháu ông Khang à! – Bà nói rất to, to như người điếc vẫn nói. – Con cô Mận đấy à? Cô Mận về chưa?
– Mẹ con mất rồi bà ạ!
– Mất rồi à! – Bà đặt cái đài xuống. – Giời ơi, thế mà tôi không biết. Mất bao giờ? Ngồi xuống đây, ngồi xuống.
Tôi ngồi xuống cái đôn gỗ, đặt túi nhãn và hai hộp sữa lên bàn. Bà hỏi về mẹ, tôi kể, phải nói to và chậm, có câu phải nói lại hai lần. Bà nghe, gật gù, chép miệng. Rồi bà kể về mình. Bà làm nữ hộ sinh ở trạm xá xã từ năm bảy mươi, tới năm hai nghìn lẻ một thì nghỉ. Ba mươi mốt năm, bà đỡ không biết bao nhiêu đứa, nửa làng Phù Mã này qua tay bà. Bà chỉ vào tấm ảnh treo trên tường trong nhà, ảnh bà hồi trẻ, mặc áo blouse trắng, đội mũ trắng, đứng trước cửa trạm xá, tay ôm một đứa bé đỏ hỏn.
– Đứa ấy giờ làm kỹ sư bên Bắc Ninh đấy. – Bà cười, khoe hàm răng đã rụng mất mấy chiếc. – Tôi đỡ nó ra. Nó ngược, tôi xoay mãi mới ra.
– Bà nhớ hết hả bà?
– Đứa nào khó thì nhớ. Đứa nào dễ thì quên.
Tôi để bà nói thêm một lúc. Về những ca đẻ đêm mưa, những lần đạp xe đi đỡ ở làng bên, những đứa bé giờ đã có con, có cháu. Rồi tôi hỏi, giọng nhẹ, như hỏi tiếp câu chuyện của bà.
– Bà ơi, năm Bính Tý, tháng Chạp, giáp Tết ấy, bà có đỡ đứa nào không bà?
– Tháng Chạp năm Bính Tý à? – Bà nghiêng tai có máy trợ thính về phía tôi. – Có chứ. Tháng Chạp nào chả có. Năm ấy có thằng Hưng nhà ông Cấn, rồi con bé nhà bà Thìn bên xóm Trong, à, rồi cả thằng cu nhà… – Bà đếm trên đầu ngón tay, môi mấp máy. – Thế thôi, ba đứa.
– Có đứa nào là con gái, sinh ngày mười hai tháng Chạp không bà? Ở nhà họ Nghiêm?
Bà Lý đang đếm, ngón tay cái còn đặt trên đốt ngón giữa. Ngón tay ấy dừng lại. Cả bàn tay bà dừng lại.
Bà nhìn tôi qua cặp kính dày. Lần đầu tiên từ lúc tôi ngồi xuống, bà nhìn tôi thật sự. Nhìn tóc tôi, mặt tôi, và tôi biết bà đang tìm cái gì, vì hôm đầu bà Tần cũng tìm đúng chỗ ấy. Tôi không cười. Nhưng bà vẫn nhìn vào miệng tôi.
Rồi bà vồ lấy cái quạt nan trên đùi, quạt rất nhanh, quạt loạn xạ như đuổi một con ong.
– Không! – Bà nói, to tới mức con chó nhà bên sủa lên. – Không có! Tôi không đỡ đứa nào ngoài bãi cả!
Tôi ngồi yên trên cái đôn gỗ.
Tôi chưa hề nói chữ "bãi".
— Hết chương 11 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe