Chương 23: Lời bà Lý
Ông Thạc cúi xuống nhặt xâu cá, rồi ông bước vào kho. Lần đầu tiên từ hôm ấy ông bước qua ngưỡng cửa. Ông ngồi xổm trước mặt tôi, nhìn người giấy trên lòng bàn tay tôi rất lâu, không chạm vào.
– Đêm ấy tôi mặc cái áo ấy, – ông nói. – Bốn thằng chèo thuyền lễ. Ba chục đứa đội rước. Đứa nào cũng áo trắng, dải đỏ.
Tôi không nói gì.
– Cô nghĩ là tôi. – Ông nói. Không phải câu hỏi.
Tôi không chối. Tôi không làm được. Ông gật đầu, chậm, như người ta gật đầu khi nghe giá một thứ đắt hơn mình tưởng.
– Đi hỏi ông từ, – ông nói. – Đêm ấy ông ấy đứng ở bến Vó, đỡ từng thằng lên bờ. Hỏi ông ấy thuyền tôi ở đâu lúc chín giờ.
Ông đặt xâu cá lên bàn, cạnh cặp lồng, rồi đi ra. Ông không về lều. Ông ra ngồi ở mép rặng chuối, quay lưng về phía kho, cách xa hơn mọi hôm chừng chục bước.
Sáng thứ Năm, Tú chở tôi lên bệnh viện tỉnh.
Cậu Lộc dặn tôi đừng lên. Tú bảo buổi sáng bố nó ở xưởng, chiều mới lên, còn buổi sáng có một chị chăm bệnh thuê ngồi với ông. Bốn mươi phút xe máy, qua hai cánh đồng lúa đang thì con gái và một con đường mới trải nhựa còn thơm mùi hắc ín. Khoa thần kinh ở tầng ba, hành lang kê đầy giường gấp của người nhà, mùi nước lau sàn, mùi cháo, tiếng máy đo nhịp tim kêu tít tít từ một phòng nào đó.
Ông ngoại nằm ở giường trong cùng, cạnh cửa sổ. Ông gầy hơn tuần trước, như ai đã rút bớt người ông ra khỏi tấm chăn. Ống thở nhỏ cài dưới mũi. Chị chăm bệnh thấy chúng tôi thì đứng dậy, bảo ông không nói được đâu, nhưng nghe được, hiểu được, tay trái thỉnh thoảng nhấc lên được một tí. Rồi chị ra hành lang.
Tôi ngồi xuống cạnh giường. Ông mở mắt. Mắt ông vẫn sáng, cái sáng của con chim bị nhốt.
– Con đây ông. Con Lam.
Bàn tay trái của ông động đậy trên chăn, mấy ngón tay co lại, duỗi ra.
– Con gặp dì rồi, – tôi nói, rất nhỏ, ghé sát tai ông. – Dì khoẻ. Dì vẫn làm ngựa.
Ông nhìn tôi. Cái miệng méo của ông mở ra, rồi khép lại. Một giọt nước mắt chảy ra từ khoé mắt bên trái, chậm, lăn xuống cái gối trắng của bệnh viện.
Tôi mở bàn tay ra. Người giấy nằm trên lòng bàn tay tôi, áo trắng, dải đỏ chéo ngực.
Ông nhìn nó. Tôi đã chuẩn bị cho nhiều thứ. Cho ông không nhận ra. Cho ông nhắm mắt. Tôi không chuẩn bị cho cái điều đã xảy ra. Mắt ông mở to hơn, to tới mức tôi thấy cả lòng trắng quanh con ngươi. Bàn tay trái của ông nhấc lên khỏi chăn, chỉ một chút, run bần bật, như muốn che một cái gì, như muốn đẩy một cái gì đi. Rồi ông quay mặt vào tường. Ông quay bằng tất cả sức lực còn lại trong cái cổ gầy, và ông giữ nguyên như thế. Tôi thấy hai vai ông rung lên dưới lớp áo bệnh viện kẻ sọc.
– Ông ơi.
Ông không quay lại.
Tú đứng ở chân giường, mặt trắng bệch. Ở giường bên, một bà cụ đang được con gái bón cháo, ngừng nhai, nhìn sang chúng tôi. Chị chăm bệnh thuê thò đầu vào cửa, hỏi có cần gọi bác sĩ không. Tôi lắc đầu. Tôi cất người giấy vào túi, kéo chăn lên cho ông, rồi ngồi thêm một lúc, tay đặt lên bàn tay trái của ông. Ông để yên tay cho tôi nắm. Nhưng ông không quay lại.
Tôi nghĩ: đêm ấy ông là người tìm thấy dì sau cùng, giữa đám trai làng áo trắng. Đêm ấy ông là người quyết giấu dì. Một người giấy áo trắng là cả đêm rằm năm ấy trên lòng bàn tay tôi. Ông khóc vì thế. Tôi nghĩ vậy, lúc ấy.
Về tới làng gần trưa. Tôi bảo Tú thả tôi ở đầu đê, chỗ con dốc xuống bến Vó.
Ông từ Nhự đang ngồi trên cái chõng tre kê dưới gốc gạo, ngoài sân miếu, đeo kính lão, đọc một quyển sách bìa đã sờn. Mấy hôm nay làng bắt đầu dọn sân miếu cho lễ rằm. Ai đó đã quét sạch lá gạo, rửa cái lư đốt vàng mã bằng xi măng, căng một sợi dây thép từ gốc gạo sang mái miếu để mai kia treo cờ. Ông thấy tôi thì gập sách lại, cài cái kính lên trán.
– Cháu Lam. Bà Tần đỡ chưa?
– Dạ đỡ rồi ông. – Tôi ngồi xuống mép chõng. – Con hỏi ông một chuyện. Chuyện năm chín sáu.
Ông nhìn tôi qua cặp kính lão đã trễ xuống. Ông không hỏi vì sao.
– Hỏi đi.
– Đêm rằm năm ấy, thuyền lễ ra giữa sông lúc mấy giờ, về lúc mấy giờ ông?
Ông Nhự không phải nghĩ. Ông là người điểm danh lớp học bằng trí nhớ.
– Tám giờ rưỡi ra. Bốn thằng chèo: thằng Thạc lái, thằng Cấn Lực, thằng Thìn, thằng Đại. Mang theo hai mươi bảy cái đèn hoa sen. Thả từng cái một, khấn từng cái một, cho đủ hai mươi bảy họ trong làng. – Ông chỉ tay ra mặt sông trước bến Vó, như con thuyền vẫn còn ở đấy. – Tôi đứng ở bậc dưới cùng, cầm cái đèn bão giơ lên cho chúng nó định hướng. Thuyền ở ngay giữa dòng, cách bờ chừng trăm thước, tôi nhìn thấy rõ từng đứa. Thằng Thạc ngồi lái, cởi trần, cái áo đội rước vắt vai. Chín rưỡi thì về. Tôi nhớ vì cái đèn cuối cùng tắt ngay khi vừa thả, thằng Đại kêu xui, tôi giơ đồng hồ lên xem giờ.
– Rồi chú Thạc đi đâu ông?
– Cập bến thì tôi đỡ từng đứa lên. Thằng Thạc lên sau cùng. Nó không lên. Nó nhảy sang cái thuyền nan của nó buộc sẵn ở cái cọc kia, cởi dây, chèo xuôi. Tôi gọi, nó không quay lại. – Ông Nhự tháo kính xuống lau. – Sáng hôm sau người ta mới biết nó chèo xuôi đi đâu.
Tôi ngồi im. Chín rưỡi, giữa sông, trước mắt ông từ và cả làng. Chín rưỡi, nhảy sang thuyền nan. Bến Cát cách đây một cây rưỡi, xuôi dòng nước lũ. Gần mười giờ.
Chú Thạc không nói dối.
Tôi cảm ơn ông Nhự. Tôi đi bộ dọc mặt đê về phía xóm Đê, đầu óc trống trơn, nhẹ bẫng như một tờ giấy vừa được gỡ khỏi một tấm khung đè quá lâu. Tôi thấy mình muốn chạy ra bãi, tới chỗ mép rặng chuối, nói với ông một câu. Tôi chưa biết câu gì.
Tôi chưa ra. Vì tôi đi ngang qua cổng nhà bà Lý.
Chị Hiên đang phơi quần áo trên dây ngoài sân. Thấy tôi, chị đứng sững, cái áo ướt còn cầm trên tay. Tôi định đi qua. Chị gọi tôi lại.
– Cô Lam. – Chị đi ra cổng, nói nhỏ. – Mẹ em bảo hôm nào cô đi qua thì gọi cô vào.
– Bà đổi ý hả chị?
Chị Hiên nhìn vào trong nhà, thở dài.
– Mấy hôm nay cả làng đồn cụ Tần ngã, đồn cô ra bãi đêm, đồn ông Thạc ngủ ngoài cái kho nhà ông Khang. Mẹ em nghe hết. Đêm nào mẹ em cũng ngồi dậy. – Chị mở cổng. – Mẹ em bảo mẹ em tám mươi rồi, không muốn mang cái thề ấy xuống dưới.
Bà Lý ngồi trên cái ghế mây, như hôm trước, nhưng không có cái đài bán dẫn, không có vở chèo. Bà đã đeo máy trợ thính sẵn. Bà nhìn tôi đi vào, và lần này bà không quạt.
– Ngồi xuống. – Bà nói, vẫn to như mọi khi. – Ngồi gần vào đây, tôi nói nhỏ được.
Tôi kéo cái đôn gỗ sát vào chân ghế. Bà đặt bàn tay khô, đầy đốm đồi mồi lên đầu gối tôi, giữ ở đó suốt lúc kể, như sợ tôi đứng dậy bỏ đi giữa chừng.
Đêm rằm năm ấy bà đi đỡ một ca ở làng bên, về muộn. Đạp xe trên mặt đê, tới chỗ dốc xuống bãi nhà ông Khang thì tuột xích. Bà dừng lại chữa. Trăng rằm sáng như ban ngày. Bà ngồi xổm chữa xích, ngẩng lên thì thấy dưới bãi, giữa ruộng ngô, có một người đi. Một thằng con trai, mặc áo trắng, cõng một đứa con gái trên lưng, đi rất nhanh, loạng choạng, về phía rặng chuối. Đứa con gái gục đầu trên vai nó, hai tay buông thõng.
– Tôi tưởng chúng nó đi đâu về say, – bà Lý nói. – Đêm rằm, trai gái hay ra bãi. Tôi không để ý. Tôi chữa mãi cái xích không xong. Phải gần nửa tiếng.
Rồi bà thấy ông Khang. Ông đạp xe từ phía miếu Cô xuống, đạp như ma đuổi, tới chỗ con dốc thì vứt xe, chạy xuống bãi. Ông không nhìn thấy bà ngồi trong bóng cây xoan.
Bà về nhà. Chưa kịp rửa chân thì có người đến gọi, bảo ông Khang mời bà ra kho ngoài bãi, mang theo đồ nghề, đi lối bờ ruộng.
– Trong kho thì cụ Tần ở đấy rồi. Cô Đào nằm dưới đất. – Bà Lý nhắm mắt lại, như nhìn cho rõ. – Tôi băng đầu cho cô ấy. Vết thương ở thái dương bên trái, trong tóc còn dằm tre. Tôi gỡ dằm, băng lại. Tôi làm nghề ba mươi năm, cô ạ, tôi biết thế nào là người bị đánh, thế nào là người bị ngã. Đầu cô ấy đập vào cọc tre. Không ai đánh cô ấy cả.
– Ông ngoại con bảo bà thề?
– Ông Khang bảo nếu tôi nói ra thì cả nhà ông ấy đi tù, cô Đào cũng chết. Ông ấy quỳ xuống trước mặt tôi. – Bà Lý mở mắt. – Ông trùm phường mã, cả làng phải nể, quỳ trên nền đất trước mặt một con mụ đỡ đẻ. Tôi thề.
Rồi bà kể cái ngày tháng Chạp ấy. Trời rét cắt ruột, gió bấc lùa qua ô thoáng, bà phải nhóm một cái bếp than ngay trong kho. Mười hai giờ trưa thì đứa bé ra. Con gái, khóc to lắm, to nhất trong mọi đứa bà đỡ năm ấy. Bà không có khăn đủ ấm, phải cởi cúc áo bông, ủ đứa bé vào ngực mình.
– Cái đứa tôi ủ trong ngực áo năm ấy, – bà nói, nhìn tôi, – giờ to thế này rồi.
Tôi không nói được gì. Tôi cúi đầu xuống, để bà xoa đầu tôi bằng bàn tay khô.
Rồi bà buông tay khỏi đầu gối tôi. Bà nhìn ra giàn mướp ngoài sân, nhìn những quả mướp dài lủng lẳng.
– Còn một chuyện ba mươi năm nay tôi cứ nghĩ mãi. – Bà nói. – Ông Khang bảo tôi là thằng Lộc nhảy xuống sông vớt chị nó lên. Tôi tin. Nó ướt như con chuột lột, ngồi run trong góc kho, cái áo trắng dính bùn. Nhưng mà cô ạ.
Bà quay lại nhìn tôi, và bà nói rất chậm, rõ từng chữ, như sợ cái máy trợ thính trong tai mình làm méo đi.
– Người cõng cô ấy vào kho là thằng bé ướt sũng ấy. Ông Khang đến sau. Đến sau nửa tiếng.
— Hết chương 23 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe