Chương 6: Lá thư của mẹ
– Ông mày bảo xây thì người ta xây, – bà Tần nói. – Tao không cản được.
Bà ngồi trên chõng, quạt nan phe phẩy, mắt nhìn ra sân. Sáu giờ sáng, bà vừa ở bãi về, cái cặp lồng úp trên thành bể nước, đã rửa sạch. Tôi đứng trước mặt bà, tay cầm điện thoại, màn hình mở tấm ảnh tôi chụp chiều qua: tấm bia đá khắc tên mẹ, chữ còn trắng.
– Ai cho phép hả bà? Con chưa đồng ý. Mẹ con đang ở trong chùa.
– Mẹ mày cho phép.
Bà đứng dậy, chống gậy vào buồng. Tôi nghe tiếng ngăn kéo gỗ kéo ra, kẹt một tiếng, tiếng giấy sột soạt. Lúc quay ra, tay bà cầm một phong bì thư màu xanh nhạt, loại phong bì bán ở bưu điện, góc dán con tem in hình hoa lan. Bà đưa nó cho tôi bằng hai tay.
– Nó gửi ra hồi tháng Hai. Trước Tết.
Tôi nhận ra chữ mẹ trước khi kịp đọc. Chữ của một người thợ may, nhỏ, đều, thẳng hàng như đường chỉ máy, chữ "g" bao giờ cũng có cái đuôi ngắn cụt. Mẹ ghi đơn may cho khách bằng thứ chữ này ba mươi năm. Tôi ngồi xuống bậc thềm, mở thư.
"Sài Gòn, ngày 12 tháng 2 năm 2026.
Cô Tần ơi, con là Mận đây.
Ba mươi năm con không viết cho cô, giờ viết thì con lại viết để xin. Con ốm nặng rồi cô ạ. Bác sĩ nói con không qua được mùa hè. Con không sợ chết. Con chỉ sợ chết rồi không biết nằm ở đâu.
Con có hai điều xin cô.
Một là khi con mất, nếu bố còn giận thì thôi, nhưng nếu bố bớt giận, cô xin bố cho con về nằm cạnh Đào. Cả đời con không được ở gần nó. Con muốn được về với em con.
Hai là con Lam. Nó không biết gì về Đào cả. Con chưa bao giờ nói. Cô đừng nói gì với nó nếu nó không hỏi. Nhưng nếu nó hỏi thì cô nói thật cho nó. Nó là đứa ngoan, nó chịu được.
Con xin lỗi bố. Con không xin bố tha cho con. Con chỉ xin bố tha cho con bé.
Con Mận."
Bên dưới là địa chỉ căn hộ của tôi, số điện thoại của tôi, viết rõ từng chữ số. Mẹ viết lá thư này lúc còn nằm trong bệnh viện, những ngày tôi ngồi cạnh giường mà không biết mẹ viết cho ai. Mẹ nhờ cô điều dưỡng đi gửi. Mẹ không nói với tôi một lời. Tôi nhớ có một buổi chiều tôi đi mua cháo về, thấy mẹ ngồi dậy được, kê cái bìa hồ sơ lên đùi mà viết, thấy tôi thì gấp vội lại, bảo viết đơn trả tiệm cho chủ nhà. Tôi đã tin.
Tôi đọc lại câu thứ hai. Nó không biết gì về Đào cả.
– Biết gì hả bà? – tôi ngẩng lên. – Mẹ con viết "nó không biết gì về Đào". Biết gì? Dì Đào chết đuối, mẹ con chỉ cần nói vậy là xong. Sao mẹ phải xin bà đừng nói?
Bà Tần nhìn tôi. Cái quạt nan trong tay bà dừng lại.
– Nó viết lúc ốm. Người ốm hay nói linh tinh.
– Mẹ con viết rõ ràng lắm bà. – Tôi giơ lá thư lên. – Mẹ con viết: nếu nó hỏi thì cô nói thật cho nó. Con hỏi đây. Con hỏi bà đây.
Bà quay mặt đi. Ngoài ngõ, có tiếng xe máy chở hàng đi qua, tiếng còi bíp bíp, tiếng người gọi nhau í ới. Một con gà mái dẫn đàn con đi qua sân, mổ mổ vào kẽ gạch. Bà nhìn đàn gà rất lâu.
– Chưa phải lúc, – bà nói. – Mày cất thư đi. Cất cho kỹ.
Rồi bà đứng dậy, đi xuống bếp nhóm lửa, và cả buổi sáng hôm ấy, mỗi lần tôi bước tới gần, bà lại tìm ra một việc khác để làm.
Tối hôm ấy cả nhà ăn cơm ở nhà cậu Lộc. Cậu bảo mấy hôm nay bận quá, chưa có bữa nào cho ra bữa, hôm nay mời cháu một bữa đàng hoàng. Mâm cơm bày trên bàn gỗ lớn ở phòng khách, nhiều món hơn cả nhà ăn được. Gà luộc lá chanh, chả rươi mợ Thoa còn trữ từ mùa trước, nem rán, canh cá rô nấu cải, một đĩa nhãn lồng to tướng. Ông ngoại được cậu Lộc bế ra, ngồi xe lăn ở đầu bàn, có cái yếm vải buộc trước ngực. Bà Tần không sang. Bà bảo bà già rồi, ăn ở nhà mình quen. Lúc tôi ra khỏi nhà cũ, sáu giờ chiều, tôi thấy bà đang xách cái cặp lồng đi lên dốc đê, chậm rãi, cái lưng còng in lên nền trời màu tro. Lần thứ hai trong ngày bà ra bãi cho gà ăn.
Tôi ngồi đối diện bức tường đầy ảnh. Phần lớn là ảnh cậu Lộc bắt tay khách, ảnh xưởng khai trương, ảnh hội chợ. Nhưng ở góc dưới có một tấm cũ hơn hẳn, ảnh màu đã ngả vàng, lồng trong khung gỗ. Một cậu thanh niên gầy, tóc rẽ ngôi, mặc áo sơ mi trắng, một dải vải đỏ chéo qua ngực từ vai xuống hông, đứng trước một con thuyền kết hoa. Cậu cười, nheo mắt vì nắng.
– Cậu năm mười tám tuổi đấy, – cậu Lộc nói, thấy tôi nhìn. – Đội rước năm chín sáu. Năm ấy cậu vừa đỗ đại học, ông thưởng cho chụp một kiểu. Trông cậu ngố không?
– Dạ, trông cậu hiền.
– Hồi ấy hiền thật. – Anh ta cười, gắp cho ông ngoại một miếng chả nhỏ. – Đời nó làm cho mình hết hiền.
Ông ngoại không ăn miếng chả. Ông nhìn tấm ảnh trên tường, nhìn mãi, môi mấp máy mà không thành tiếng.
Bữa cơm đi được nửa thì điện thoại cậu Lộc đổ chuông. Anh ta nghe, cau mày, bảo xe hàng đi Hà Nội có vấn đề với mấy kiện đèn lồng, anh ta phải ra xưởng xem một lát. Anh ta đứng dậy, xin lỗi, đi ra cửa sau. Mợ Thoa tiếp tục gắp cho tôi, hỏi chuyện Sài Gòn, chuyện giá nhà, chuyện tôi có người yêu chưa. Tú cắm cúi ăn, không nói câu nào, thỉnh thoảng ngước lên nhìn tôi, rồi lại cúi xuống.
Hai mươi phút sau cậu Lộc mới quay lại. Anh ta rửa tay ở vòi nước ngoài hiên khá lâu.
Tôi kể về ngôi mộ. Tôi cố nói thật nhẹ nhàng, như hỏi chuyện. Cậu Lộc gật đầu ngay, như đã chờ câu ấy.
– Ông bảo xây thì cậu cho người xây. Tháng Tư, sau khi cụ Tần nhận thư mẹ cháu. Cậu không dám tự quyết. – Anh ta lau miệng bằng khăn giấy. – Còn đưa mẹ cháu về hay không là quyền của cháu. Cháu bằng lòng thì cậu lo hết, từ vé máy bay tới lễ an táng. Cháu không bằng lòng thì thôi, cái mộ cứ để đó, coi như cái lòng của ông.
Ông ngoại ngẩng lên. Cái tay trái của ông gõ nhẹ xuống mặt bàn, gõ hai cái.
– Mận… về với em, – ông nói. Rồi nhắc lại, rõ hơn: – Về với em.
Mợ Thoa đặt bát xuống, nhìn chồng. Cậu Lộc thì cúi xuống chỉnh lại cái yếm trên ngực ông, rất cẩn thận, rất lâu.
Chín giờ tôi về. Tú tiễn tôi ra tới cổng, tay đút túi quần, đá đá một viên sỏi. Tôi tưởng nó lại định hỏi chuyện bưu phẩm. Nó chỉ nhìn về phía con ngõ tối dẫn xuống nhà cũ, rồi nói rất nhanh: "Chị về nhớ cài then buồng nhé. Cả cửa sổ nữa." Tôi hỏi sao vậy. Nó nhún vai, bảo làng này đêm hay có trộm gà, rồi quay vào, đóng cổng sắt lại sau lưng. Tiếng then cổng kêu một tiếng dài.
Con ngõ không có đèn, tôi bật đèn điện thoại mà đi. Nhà bên đã tắt điện, chỉ có tiếng ti vi rì rầm từ một nhà phía trên đê. Bà Tần ngủ rồi, cửa buồng bà khép, có tiếng ngáy khẽ. Tôi rửa chân ở bể, vào buồng, bật cái bóng đèn sợi đốt duy nhất treo giữa nhà.
Cái va-li vẫn nằm dưới gầm giường.
Khoá kéo dừng ở bên phải.
Tôi quỳ xuống nền gạch, kéo va-li ra, mở. Lần này không có gì bị xếp lại. Quần áo vẫn cuộn tròn như tôi để, túi đồ nghề vẫn nằm. Ai mở lần này thì biết mình tìm cái gì. Tôi lật đáy va-li. Hộp bánh sắt vẫn ở đó, nắp đậy khít. Tôi mở nắp.
Lớp giấy lụa vẫn ở trong, gấp lại gọn gàng, bốn góc vuông vức, như có người đã cẩn thận gấp lại cho tôi.
Con ngựa thì không còn.
Tôi không nhớ mình đã ngồi đó bao lâu. Tôi nhớ tôi đã kiểm tra cửa sổ, song gỗ vẫn cài then từ bên trong. Tôi nhớ tôi đã đứng ở cửa buồng bà Tần, giơ tay định gõ, rồi hạ tay xuống. Tôi nhớ tôi đã mở ba lô, lôi cái hộp nhựa đồ nghề ra, mở nắp: con ngựa thứ hai vẫn nằm đó, trong lớp giấy bọc, hai mắt nhắm, nặng lệch về phía bụng. Tôi ôm cả cái ba lô vào lòng, ngồi dựa lưng vào thành giường. Ngoài kia ếch nhái kêu đều đều. Một con thạch sùng chắc lưỡi trên xà nhà ba tiếng. Ở Sài Gòn mẹ tôi hay bảo thạch sùng chắc lưỡi là có người sắp đến.
Không ai đến. Tôi không ngủ. Tới bốn giờ rưỡi, khi khe cửa ngả xám, tôi xỏ dép, khoác áo, đeo ba lô, đi ra ngõ.
Tôi không biết vì sao tôi lại đi lên đê, rồi rẽ về phía bến Vó. Có lẽ vì ở làng này, mọi con đường đều dẫn ra sông. Có lẽ vì tôi nhớ lời chị Nụ, sáng hôm trước khi ông Tường chết người ta thấy một con ngựa ở miếu. Mặt đê vắng tanh, sương mỏng nằm trên mặt bãi như một tấm vải màn. Mặt sông chưa có màu, chỉ là một khoảng xám mênh mông, tiếng nước chảy ào ào nghe gần hơn ban ngày.
Từ xa, tôi đã thấy một sợi khói mảnh bốc lên từ gốc gạo.
Ông từ Nhự chưa đến. Cửa miếu còn đóng, ổ khoá đồng treo ngoài. Sân miếu trống. Nhưng cái lư đốt vàng mã bằng xi măng dưới chân tường đang bốc khói, một sợi khói xanh, thẳng, rất mảnh, như sợi chỉ có ai kéo từ dưới đất lên.
Tôi đi tới. Miệng lư ấm. Bên trong là một nhúm tro còn đỏ hồng ở giữa, xung quanh là tro xám, mấy cọng nan tre cháy đen cong queo. Tôi lấy một que củi khều ra. Một mẩu giấy trắng chưa cháy hết, mép cắt răng cưa, đếm được ba răng. Một mẩu lạt giang cháy dở, còn nguyên cái nút thắt hai vòng. Và quấn quanh một đoạn nan tre đã cháy thành than là một sợi chỉ đỏ, sém đen ở hai đầu, ở giữa còn nguyên cái nút thắt chặt.
Tôi biết cái nút ấy. Mẹ tôi buộc chỉ bằng một cái nút như vậy, nút thợ may, quấn ba vòng rồi rút, cả đời mẹ không buộc cách nào khác.
— Hết chương 6 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe