Chương 21: Mưa ngâu
Đêm Chủ nhật, dì Đào ra bến Cát.
Tôi gọi dì là dì. Tôi đã thử gọi khác, trong đầu, chỉ một lần, và chữ ấy không ra được. Ông Thạc thì gọi dì là "cô ấy", như chừng ấy năm nay ông vẫn gọi cái bóng trắng ở bến.
Dì dậy lúc gần mười một giờ, khi trăng mùng năm đã lặn từ lâu. Dì không động tới quyển lịch, lịch chỉ xé vào buổi sáng. Dì đứng dậy, ôm một con ngựa trắng trên tường xuống, mở chốt cửa, đi ra. Không nhìn tôi. Không nhìn ông Thạc đang nằm trên tấm chiếu trải dưới mái hiên kho, cái nơi ông nói ông sẽ ngủ cho tới khi nào có người bảo ông đi. Dì đi qua ông như đi qua một gốc chuối.
Chúng tôi đi theo dì. Ông Thạc đi trước, tôi đi sau, không ai nói gì. Nước đã rút được một bậc. Dì xuống tới bậc thứ hai thì dừng, đứng đó, ôm con ngựa, nhìn ra khoảng đen mênh mông có tiếng nước. Ông Thạc xuống bậc thứ ba, đứng ngay dưới dì, giữa dì và mặt nước, quay lưng ra sông. Ông không chạm vào dì. Ông chỉ đứng đó, như một cái cọc.
Dì đứng chừng nửa tiếng. Rồi dì nói một câu, không với ai: "Chưa có thuyền." Và dì quay lên, đi về kho, chui vào màn, ngủ.
Ông Thạc ngồi lại trên bậc bến rất lâu. Tôi không biết ông nghĩ gì. Ba mươi năm ông ngồi xa xa nhìn cái bóng ấy, sợ lại gần thì nó đi mất. Đêm nay ông đứng cách nó một bậc gạch.
Sáng thứ Hai, tôi gọi về bảo tàng.
Anh Vĩnh, trưởng phòng tu bổ, nghe tôi xin nghỉ không lương tới hết tháng thì im lặng một lúc lâu. Rồi anh bảo tôi đã nghỉ quá mười ngày phép, phòng đang có lô bản đồ phải giao, giám đốc hỏi hai lần rồi. Tôi nói tôi biết. Tôi xin lỗi. Tôi không giải thích được qua điện thoại. Anh bảo anh sẽ trình lên, nhưng không hứa. Một tiếng sau cô Diệp gọi. Cô không hỏi gì cả, chỉ bảo cô đã nói chuyện với giám đốc, cô sẽ nhận lô bản đồ thay tôi, con cứ làm việc của con. Rồi cô hỏi một câu, giọng nhẹ như khi cô dặn tôi đừng để tờ giấy gần chỗ ẩm.
– Con tìm được người làm con ngựa chưa?
– Dạ được rồi cô.
– Người đó còn khoẻ không con?
Tôi nhìn qua cửa kho, về phía tấm màn trắng đã vá.
– Không khoẻ lắm cô. Nhưng tay còn khéo.
Cả ngày thứ Hai tôi và ông Thạc thay nhau. Tôi về nhà cũ nấu cháo cho bà Tần, bóp thuốc cho bà, rồi xách cặp lồng ra bãi, đúng giờ bà vẫn đi. Ông Thạc về lều một lúc rồi quay lại, mang theo một bó lá chuối, một nải chuối tiêu và một cái quạt nan. Dì Đào ngủ tới trưa, ăn hết một ngăn cơm, rồi ngồi làm ngựa. Dì không hỏi chúng tôi là ai nữa. Có lẽ với dì, người đến mang cơm thì đến, người ngồi ở cửa thì ngồi, như mưa nắng.
Tú nhắn tin, bảo bố nó ở viện từ hôm Chủ nhật, ông đã có chị chăm bệnh thuê, mợ Thoa ở nhà lo xưởng. Mợ hỏi sao trạm y tế lại đến nhà cụ Tần, nó phải nói là cụ ngã. Tối thứ Hai, bố nó gọi về, nó cũng phải nói. Nó nhắn thêm một dòng, không dấu: "Bo em ve nha roi. Chi can than."
Tôi đọc tin nhắn ấy lúc gần nửa đêm, ngồi trên bậc cửa kho. Tôi nghĩ về câu cuối cùng của bà Tần. Thằng Lộc ướt từ đầu tới chân. Tôi lật nó đi lật lại trong đầu, như lật một tờ giấy cũ tìm dấu vết. Một cậu trai mười tám tuổi nhảy xuống nước lũ vớt chị mình lên. Rồi chừng ấy năm im lặng vì bố bắt im. Câu chuyện ấy có lý. Nó còn làm tôi thương anh ta. Một người đã kéo chị mình khỏi sông, rồi phải đứng nhìn chị mình bị giấu trong một cái kho, ba mươi năm.
Tôi không ngủ được. Tôi nghĩ tới hai mươi phút anh ta rời bữa cơm, tới cái vòi nước ngoài hiên.
Rạng sáng thứ Ba thì mưa.
Không phải mưa giông. Một thứ mưa rất mịn, rất đều, như có ai đứng trên trời rây bột. Bà Tần hay nói mùng bảy tháng Bảy là mưa ngâu, ông Ngâu bà Ngâu gặp nhau trên cầu ô thước, khóc. Bãi chìm trong một màu xám bạc, ruộng ngô đổ nằm im, tàu chuối nhỏ nước tong tong. Mưa không ồn, nên tôi nghe được tiếng xe máy từ rất xa, từ trên mặt đê, rồi xuống dốc, rồi vào lối mòn.
Ông Thạc đi thăm vó từ lúc năm giờ. Dì Đào ngủ sau một đêm đi bến. Trong kho chỉ có tôi.
Tiếng xe máy dừng trước sân. Tiếng bước chân lội qua vũng nước. Rồi tiếng ai đó giật thử cái khoá móc. Cái khoá móc treo không trên khuy, vì cửa đã cài chốt từ bên trong. Người bên ngoài im lặng một lúc lâu. Rồi tôi nghe một giọng nói, thấp, đều, như người ta dỗ một đứa trẻ sau cánh cửa.
– Chị ơi. Em đây. Lộc đây. Em mang cơm cho chị.
Tôi đứng dậy, rút chốt, mở cửa.
Cậu Lộc đứng giữa mưa ngâu, khoác cái áo mưa cánh dơi màu xanh lính, tay xách một cái cặp lồng nhôm ba ngăn, mới hơn cái của bà Tần. Kính anh ta lấm tấm nước. Anh ta nhìn tôi, và trong một giây, cái mặt quen cười ấy không còn gì cả, trống trơn như tờ giấy chưa ai viết.
– Dì ngủ rồi, – tôi nói. – Cậu nói nhỏ thôi.
Tôi bước ra, khép cửa lại sau lưng. Chúng tôi đứng dưới mái hiên hẹp, mưa rây xuống ngay trước mũi giày.
Anh ta không chối. Tôi đã chuẩn bị cho một câu chối, cho một bà điên người làng khác thứ hai, nhưng anh ta không chối. Anh ta đặt cái cặp lồng xuống bậc cửa, tháo kính, lau bằng vạt áo sơ mi bên trong áo mưa, rồi đeo lại.
– Cụ Tần đưa chìa khoá cho cháu à?
– Bà ngã. Bà sốt. Bà bảo con đi.
– Ừ. – Anh ta gật đầu, như người nghe một tin đã đoán trước nhiều năm. – Thế là cháu biết rồi.
– Con biết dì Đào sống ba mươi năm trong cái kho này. Con biết cả nhà mình biết.
– Cả nhà mình thì không. Bố, cụ Tần, cậu. Thế thôi. – Anh ta nhìn ra ruộng ngô đổ. – Mợ cháu không biết. Thằng Tú không biết. Mẹ cháu không biết.
– Sao cậu để vậy?
Anh ta cười. Một cái cười rất mệt, rất ngắn.
– Cháu hỏi cậu như cậu là người quyết. Năm ấy cậu mười tám tuổi, cháu ạ. Bố cậu bảo im. Ở cái làng này, bố bảo im thì con im. Rồi cậu lên Hà Nội học. Rồi một năm, hai năm, mười năm. Mỗi năm qua đi thì cái miệng càng khó mở. – Anh ta thở ra. – Cháu nghĩ cậu không nghĩ à? Đêm nào cậu cũng nghĩ. Thuốc của chị, ba mươi năm nay, là cậu mua. Hiệu thuốc nào bán, bác sĩ nào kê, cậu đi xin ở đâu, cậu biết hết.
– Đêm ấy ai đẩy dì?
– Bố. – Anh ta nói ngay, không ngập ngừng. – Bố đi tìm chị, lôi chị ở bến Cát. Chị giằng, chị trượt chân. Ba mươi năm nay bố vẫn nói thế.
Gần như từng chữ ông ngoại đã nói với tôi, đêm trước khi ông ngã lần thứ hai. Như hai người thuộc cùng một bài.
– Bà Tần nói cậu ướt từ đầu tới chân.
Anh ta quay sang nhìn tôi. Cái nhìn ấy giữ trên mặt tôi lâu hơn mọi lần.
– Cậu nhảy xuống. – Anh ta nói, chậm. – Cậu nhảy xuống vớt chị. Cậu vớt được.
Tôi không nói gì. Mưa vẫn rây xuống, đều, không ngừng. Tôi nghĩ tới một cậu trai áo trắng dải đỏ đứng trước một con thuyền kết hoa, nheo mắt vì nắng.
– Bây giờ cậu định làm gì?
– Cậu định làm cái việc lẽ ra phải làm từ lâu. – Giọng anh ta đổi, trở lại cái giọng tròn, có chỗ cho người nghe gật đầu. – Ở Ninh Bình có một trung tâm tư nhân, chuyên chăm người già, người bệnh thần kinh. Có bác sĩ, có điều dưỡng, phòng sạch, có vườn. Cậu đã nói chuyện với họ. Chị vào đấy, có người chăm đàng hoàng, uống thuốc đúng giờ, không phải sống trong cái kho dột này nữa. Tiền cậu lo hết. Nhà mình tự lo cho nhà mình. Không cần ai biết.
– Trước ngày kiểm đếm.
Anh ta khựng lại một nhịp.
– Mợ cháu kể với cháu à.
– Con hỏi mợ, mợ nói. – Tôi thò tay vào túi áo, lấy ra cái mẩu giấy gói. Tôi mở nó ra trên lòng bàn tay, chìa cho anh ta xem. Một cọng nan tre cháy dở, một nút lạt sém đen, hai vòng, đầu lạt giắt vào trong. – Con nhặt ở đáy lò đốt giấy vụn nhà cậu. Cậu đốt ngựa của dì. Bao nhiêu năm rồi cậu?
Anh ta nhìn cái nút lạt. Anh ta không cầm nó.
– Ngựa nhắm mắt ở làng này ai thấy mà chẳng đốt.
– Con ngựa của mẹ con thì sao? Cái con có sợi chỉ đỏ ấy.
Lần này anh ta không trả lời. Anh ta cúi xuống nhìn cái cặp lồng trên bậc cửa, như nhìn một thứ ai đó để quên. Nước mưa nhỏ từ mép mái hiên xuống mu bàn tay anh ta, anh ta không lau.
Tiếng chân người lội nước, phía rặng chuối.
Chúng tôi cùng quay lại. Ở mép rặng chuối, cách cửa kho chừng hai chục bước, mợ Thoa đứng đó. Mợ mặc cái áo mưa ni lông trong suốt, mũ trùm đầu, quần xắn tới bắp chân, đôi dép nhựa lấm bùn đỏ. Mợ không cầm ô, không cầm gì. Mặt mợ ướt, không biết vì mưa hay vì gì khác.
– Anh đi đâu từ năm giờ sáng? – mợ nói. Giọng không to. – Em thấy anh xới cơm vào cặp lồng. Cặp lồng ba ngăn. Như cái của cụ Tần.
Cậu Lộc không nói gì.
Mợ đi tới. Từng bước, chậm, như đi trên bờ ruộng trơn. Mợ không nhìn chồng. Mợ nhìn cánh cửa kho sau lưng tôi. Tôi không kịp làm gì. Mợ đưa tay đẩy cánh cửa ra, chỉ một khe, rồi đứng sững.
Trong kho, ánh sáng xám của buổi sáng mưa lọt qua ô thoáng, rọi lên ba bức tường ngựa trắng nhắm mắt. Giữa phòng, sau tấm màn vá, một bàn tay gầy thò ra mép phản, buông xuống, những ngón tay khẽ động trong giấc ngủ.
– Chị nào? – mợ hỏi. Mợ quay sang chồng. – Anh vừa gọi chị. Em nghe thấy anh gọi chị. Chị nào?
– Em về đi.
– Chị nào hả anh?
Cậu Lộc nhìn vợ. Rồi anh ta nhìn tôi. Tôi thấy anh ta nhìn từ mặt tôi xuống cái nút lạt cháy trên lòng bàn tay tôi, rồi lên lại. Cái nhìn của một người đang đếm xem mình còn bao nhiêu đường lui.
– Chị Đào. – Anh ta nói. Hai chữ ấy rơi ra như hai viên sỏi. – Chị Đào của anh.
Mợ Thoa đưa tay lên bịt miệng. Mợ lùi lại một bước, gót dép trượt trên bậc cửa, tôi phải chụp lấy khuỷu tay mợ. Mợ không gạt tay tôi ra. Mợ đứng đó, dựa vào tôi, nhìn vào trong kho, nhìn mãi.
Cậu Lộc cúi xuống, nhặt cái cặp lồng lên, đặt vào tay tôi.
– Cháu cho chị ăn đi. – Anh ta nói, giọng đã bình tĩnh lại, phẳng như mặt nước ao. – Còn nếu cháu nghĩ cậu sai thì cháu đi báo công an đi. Cậu không cản. – Anh ta kéo mũ áo mưa lên đầu. – Rồi ông ngoại cháu tám mươi sáu tuổi, nằm liệt trên giường bệnh, đi tù. Cụ Tần tám mươi hai tuổi đi tù. Còn dì cháu thì vào trại.
— Hết chương 21 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe