Chương 32: Điểm mắt
Có tiếng xì xào chạy qua đám đông, như sóng lăn tăn qua mặt ao.
– Con gái không được điểm…
– Lệ là trưởng họ…
– Thôi, đêm nay còn lệ gì nữa…
Một người đàn ông đứng gần cửa miếu, tóc hoa râm, cất giọng hơi to: "Ông từ ơi, thế có được không?" Mấy người khác gật gù theo. Ông từ Nhự quay lại nhìn họ. Ông không giơ cái micro lên. Ông nói bằng giọng của người thầy giáo đứng lớp ba mươi năm, không to, nhưng tới đâu là chỗ ấy im.
– Hương ước cụ Cẩn để lại bảo: năm Bính Ngọ, ngựa cho Cô phải do tay con gái họ Nghiêm làm. – Ông nói. – Con ngựa này hai người làm. Cả hai đều là con gái họ Nghiêm. Một người ba mươi năm chưa được ai cho cầm bút điểm mắt.
Ông dừng lại, nhìn dì Đào.
– Cô Thêu cũng là con gái. Cô cũng chưa bao giờ được điểm mắt cho con ngựa nào.
Không ai nói gì nữa.
Con ngựa cao hơn dì một cái đầu. Ông Thạc đi vào trong miếu, bưng ra cái đôn gỗ ông từ vẫn đặt bát hương, đặt xuống cạnh chân trước con ngựa. Dì Đào nhìn cái đôn. Dì bước lên, chân trần một bên, chân kia còn đi chiếc dép đỏ có quai khâu chỉ đen. Tôi đứng sau lưng dì, hai tay đỡ lấy eo dì. Người dì nhẹ như một cái khung ngựa chưa dán giấy. Ông Thạc đứng bên kia, một tay giữ cái đôn, một tay giơ lên chờ, không chạm vào dì.
Dì chấm bút vào bát mực tàu tôi bưng. Dì gạt ngọn bút lên thành bát, một lần, hai lần, như người thợ quen, cho mực vừa đủ, không nhỏ giọt.
Rồi dì giơ bút lên trước mặt con ngựa. Và dì dừng lại.
Tôi thấy tay dì run. Không phải cái run của người già. Cái run của người đang đứng ở mép một cái gì. Ngọn bút lông cách mặt giấy chừng một đốt ngón tay, run run dưới ánh nến. Ba mươi năm, bàn tay ấy chỉ biết vẽ một kiểu mắt. Hai nét cong úp xuống, có mi. Ngựa ngủ. Ngựa của con thì con không cho đi đâu cả.
Cả sân miếu chờ. Tôi nghe tiếng nước sông vỗ vào chân bậc bến. Tôi nghe tiếng một đứa trẻ ở cuối sân hỏi mẹ "bà ấy làm gì thế", và tiếng người mẹ suỵt khẽ.
Ngọn bút chạm vào giấy.
Dì vẽ một nét cong. Úp xuống. Như mọi lần. Tôi thấy những người đứng gần nín thở, có người lùi lại một bước. Ngựa nhắm mắt. Ngựa nhắm mắt ngay trước cửa miếu Cô, đêm rằm năm Bính Ngọ.
Rồi dì không nhấc bút lên.
Dì kéo ngọn bút xuống dưới nét cong ấy, chậm, và vẽ một vòng tròn. Một vòng tròn đen, đặc, đầy, nằm ngay dưới nét cong, chạm vào nó. Rồi dì chấm thêm một chấm trắng nhỏ ở giữa vòng tròn đen bằng cái đuôi bút đã khô mực, chỗ giấy trắng lộ ra. Đốm sáng của con mắt.
Nét cong úp xuống không còn là mi mắt đang nhắm nữa. Nó thành mí trên của một con mắt đang mở.
Dì chấm mực lần nữa. Dì sang con mắt thứ hai. Lần này tay dì không run. Nét cong, vòng tròn, đốm sáng. Nhanh, gọn, như dì đã làm việc này cả đời.
Dì hạ bút xuống. Tôi đỡ dì bước xuống khỏi cái đôn. Dì đứng lùi lại, đứng cạnh tôi, ngẩng lên nhìn con ngựa.
Con ngựa trắng đứng trước cửa miếu Cô, cao hơn đầu người, bờm mười một răng lay trong gió sông, chân sau bên trái ngắn hơn một li cho nó đứng như đang bước. Và hai con mắt nó mở. Đen, tròn, có đốm sáng, nhìn thẳng ra phía sông, ra phía con đường sáng trăng chạy từ bờ bên kia sang. Như nó vừa nghe ai gọi tên mình từ rất xa.
Ông từ Nhự không nói gì một lúc lâu. Rồi ông cầm bó nhang to trên mâm lễ, châm vào ngọn nến lớn trước cửa miếu. Bó nhang cháy đỏ đầu, khói trắng bốc lên. Ông chìa nó cho tôi.
– Điểm xong thì đốt ngay, – ông nói. – Cho Cô có ngựa đi.
Tôi cầm bó nhang. Tôi nhìn những đầu nhang đỏ rực trong tay mình.
Đêm nay tôi đã chui qua một khe ván vào giữa một căn kho đang cháy. Tôi đã bò trên nền đất trong khói, đã gạt một con ngựa đang cháy khỏi vai mình bằng cái ba lô. Tôi nghĩ mình đã hết sợ. Tôi chưa hết. Cầm lửa trong tay mình, để chính tay mình châm vào một thứ bằng giấy, là một việc khác. Hai mươi chín năm tôi giữ giấy khỏi lửa. Bàn tay tôi không biết làm điều ngược lại.
Dì Đào nhìn tôi. Rồi dì đặt bàn tay gầy của dì lên bàn tay đang cầm bó nhang của tôi, như dì đã đặt tay tôi vào đúng chỗ trên khung ngựa trong kho. Không nói gì. Hai bàn tay, một bàn tay đầy vết xước và một bàn tay mang vệt bỏng cũ trên mu, cùng cầm một bó nhang.
Chúng tôi cúi xuống. Chúng tôi chạm những đầu nhang đỏ vào cái chân sau bên trái của con ngựa, cái chân ngắn hơn một li.
Giấy bén lửa.
Ngọn lửa nhỏ liếm lên cái chân trước, rồi lên bụng, rồi chạy dọc sống lưng, nhanh, gọn, sáng rực, như một người vừa nhảy lên lưng ngựa. Cái bờm mười một răng bùng lên thành mười một ngọn lửa nhỏ. Lớp giấy trắng phủ đầu ngựa co lại, nhưng hai con mắt đen vẫn còn đó thêm mấy giây, mở to, nhìn ra sông, giữa vầng lửa, rồi mới chìm vào. Khung tre trơ ra một thoáng, đứng nguyên hình con ngựa đang bước, rồi gập xuống, nhẹ nhàng, như con ngựa quỳ hai chân trước xuống để người ta trèo lên.
Tôi không lùi lại. Hơi nóng phả vào mặt tôi. Tôi đứng yên. Dì Đào đứng cạnh tôi, tay dì vẫn nắm tay tôi.
– Đi đi, – dì nói, rất khẽ, với con ngựa. – Đi đi.
Cả sân miếu đứng im nhìn con ngựa cháy. Không ai khấn. Không ai nói câu "năm Bính lửa đòi". Chỉ có tiếng lửa, tiếng nước sông, và tiếng mấy con chó xa xa trong làng sủa lên một hồi rồi thôi.
Khi con ngựa chỉ còn là một đống than hồng trước cửa miếu, ông từ Nhự quay lại, giơ tay ra hiệu. Người làng lục tục mang lễ vật của mình ra cái lư xi măng bên chân tường miếu. Ngựa đỏ, ngựa đen, mũ áo giấy, tiền vàng. Lửa lại bốc lên. Thuyền lễ lại ra giữa sông, những ngọn đèn hoa sen cuối cùng được thả xuống dòng nước, trôi xuôi về phía bến Cát, về phía cái kho đã thành tro.
Dì Đào không nhìn những đám lửa khác. Dì nhìn tôi.
Dì nhìn rất lâu. Ánh lửa từ đống than hồng hắt lên mặt dì, lên vết sẹo lõm trên thái dương trái, lên cái muội đen chưa lau sạch trên gò má. Đôi mắt dì không còn cái nhìn của người vừa ngủ dậy chưa biết mình đang ở đâu. Dì đưa tay lên, vuốt tóc tôi, vuốt từ đỉnh đầu xuống gáy, như vuốt tóc một đứa trẻ vừa ngủ dậy.
– Con, – dì nói.
Chỉ một chữ. Không phải "chị Mận". Không phải "con bé đâu". Con.
Tôi không trả lời được. Tôi ôm dì. Dì nhỏ lắm, xương vai dì nhô lên dưới lớp áo cánh lấm muội. Dì để yên cho tôi ôm, rồi dì vòng tay ra sau lưng tôi, vỗ nhẹ, đều, như vỗ một đứa trẻ cho ngủ.
Mười một giờ, ông Thạc cõng dì về.
Chúng tôi đi trên mặt đê, ngược với đường lúc tối, chỉ có ba người. Trăng đã lên đỉnh đầu, trắng, nhỏ lại, rọi xuống bãi một màu bạc đều như phủ giấy bóng mờ. Phía bến Cát, chỗ cái kho, chỉ còn một đốm đỏ âm ỉ giữa rặng chuối, thỉnh thoảng bùng lên một chút rồi lại lụi, như hòn than trong bếp rơm của bà Tần lúc gần sáng. Khói đã tan. Từ trên đê nhìn xuống, nếu không biết, người ta sẽ tưởng đó chỉ là một đống rơm ai đốt muộn.
Đi được nửa đường, dì Đào bắt đầu hát.
Dì gục đầu trên vai ông Thạc, mắt nhắm, hát rất nhỏ, chữ nọ dính vào chữ kia, như trong kho cái hôm tôi nấp sau bụi chuối. Ru hời, ru hỡi, ru hời. Ngựa ơi nhắm mắt cho người qua sông. Tới đó thì dì ngừng, như người hát quên lời, hoặc như người đã hát tới chỗ mình cần.
Ông Thạc đứng lại giữa mặt đê. Ông đứng rất lâu, dì trên lưng, không quay đầu. Tôi đứng sau ông, không đi qua. Rồi ông xốc dì lên cho chắc, và đi tiếp, bước chậm hơn, như sợ làm dì tỉnh.
Không ai chết đêm ấy. Tôi biết vì cả làng đã đếm. Người ta về nhà, người ta gọi nhau, người ta hỏi thăm từng nhà như hỏi thăm sau một đêm bão. Ông Hùng xóm Đê ngã xe đạp trên dốc đê, trầy đầu gối. Bà Huệ bên xóm Trong lên cơn huyết áp, con dâu cho uống thuốc rồi đỡ. Một đứa trẻ con lạc mẹ ở sân miếu, nửa tiếng sau tìm thấy nó đang ngủ dưới gốc gạo. Năm Bính Ngọ, đủ sáu mươi năm, đêm rằm tháng Bảy, không ai chết.
Bà Tần ngồi chờ trên chõng ngoài hiên, ngọn đèn dầu đặt cạnh, cái khăn nhung đen vấn trên đầu. Bà đã ngồi đó từ lúc thấy ánh lửa bên kia đê. Tú đã gọi về kể cho bà nghe, cả chuyện cái kho, cả chuyện ở miếu. Bà nhìn ông Thạc cõng dì Đào qua cổng. Bà nhìn chiếc dép đỏ duy nhất trên chân dì. Chiếc kia, chiếc dì đi ba mươi năm, đã ở lại trong đống tro ngoài bãi. Bà nhìn tôi.
– Nó điểm mắt mở à? – bà hỏi.
– Dạ.
Bà gật đầu. Bà ngồi im, nhìn ngọn đèn dầu.
– Thế là nó cho đi được rồi, – bà nói.
Tôi đặt dì nằm xuống giường trong buồng mẹ tôi, phía ngoài. Dì nằm nghiêng, quay mặt vào trong, nơi mẹ tôi từng nằm. Dì ngủ ngay. Tôi kéo chăn đắp cho dì, rồi nằm xuống cái chiếu dưới nền gạch. Ông Thạc ngủ trên phản gian giữa, lần đầu tiên ngủ trong nhà họ Nghiêm. Ngoài trời, trăng rằm đã ngả về tây, rọi qua song cửa sổ thành những vệt sáng nằm ngang trên nền gạch.
Tôi không biết mình ngủ thiếp đi lúc nào.
Hai giờ sáng, điện thoại tôi đổ chuông. Số mợ Thoa.
Tôi nghe máy. Đầu dây là tiếng máy đo nhịp tim kêu tít tít, tiếng người chạy trên hành lang, tiếng ai đó gọi bác sĩ. Rồi giọng mợ Thoa, gấp, nghẹn.
– Lam ơi. Ông trở nặng rồi. Bác sĩ bảo người nhà lên ngay.
— Hết chương 32 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe