Chương 16: Bài ru trong kho
Ông kể bằng một giọng tôi chưa nghe ông dùng bao giờ. Không méo, không rè. Chậm, đều, như người đọc lại một bản văn đã học thuộc ba mươi năm, chỉ chờ có người nghe.
Đêm rằm năm Bính Tý, ông đứng làm lễ ở miếu Cô. Ông đã nhốt con Đào trong buồng, khoá ngoài, vì người dưới Nam Định đã đến xem mặt, ngày cưới đã định. Con ngựa trắng ông làm cho Cô đã đốt xong. Lúc người làng còn đang khấn, thằng em họ ông chạy ra miếu, ghé tai ông bảo cửa sổ buồng con Đào bị cạy, song gỗ gãy hai thanh.
– Ông biết nó đi đâu, – ông nói. – Ông biết nó hẹn thằng Thạc. Ông đạp xe dọc bãi xuống bến Cát.
Ông tới nơi thì con Đào đang đứng ở bậc thứ ba, nhìn ra sông, chờ thuyền. Nước lũ đã ngập tới bậc thứ tư. Ông gọi, nó không về. Ông xuống, nắm tay nó lôi lên. Nó giằng. Bậc gạch ướt, rêu trơn như mỡ.
– Nó trượt chân. – Ông nói. Những ngón tay trên chăn siết lại. – Đầu nó đập vào cái cọc tre buộc thuyền. Rồi nó rơi xuống nước.
Ông dừng lại. Ngoài cửa sổ, tiếng ếch nhái kêu từng đợt, như ai đó ở rất xa đang gõ vào những cái mõ nhỏ.
– Ông giết nó, – ông nói lần nữa. – Ông lôi nó. Ông không lôi thì nó không ngã.
Tôi ngồi im. Tôi muốn hỏi một nghìn câu. Tôi chỉ hỏi được một.
– Rồi ông có kéo dì lên không ông?
Ông nhìn tôi. Môi ông mở ra, tôi thấy một câu đang tới, tôi thấy nó dâng lên trong cổ họng ông như nước dâng lên bậc gạch. Rồi ông khép môi lại. Ông quay mặt nhìn lên trần nhà, nhìn cái bóng gãy của cây treo bình nước.
– Rằm này ông ra miếu, – ông nói. – Ông nói hết với làng. Nói xong ông lên công an xã. Ông không để cho ai giữ hộ ông nữa.
– Ai giữ hộ ông?
Ông không trả lời. Bàn tay trái của ông nhích lên khỏi chăn, chỉ về phía tôi.
– Con làm ngựa cho dì. Làm cho cẩn thận. Đêm rằm, ra miếu, con điểm mắt cho nó. Mở mắt ra. – Ông thở dốc. – Cho dì con đi được. Ba mươi năm rồi. Đi được thì đi.
Hôm đầu tiên ông bảo tôi đừng mở mắt nó. Hôm nay ông bảo tôi mở. Tôi không hiểu. Tôi lấy trong túi áo ra cái túi nhựa nhỏ, trong đó là mảnh lịch, đặt lên chăn, ngay cạnh bàn tay ông.
– Dì viết cái này ngày con ra đời, ông. Mười hai tháng Chạp năm Bính Tý. Năm tháng sau đêm bến Cát.
Ông nhìn mảnh lịch. Ông không cần đọc. Ông nhìn nó như người ta nhìn một gương mặt quen. Rồi khuôn mặt ông, nửa còn cử động được, co rúm lại. Ông khóc. Không thành tiếng. Nước mắt chảy ra từ hai khoé mắt, chảy xuống hai bên thái dương, thấm vào cái gối.
– Mày… biết rồi à, – ông thì thầm. – Con Tần nói với mày à?
– Không ai nói với con cả ông.
Ba tiếng gõ ngoài cửa. Rồi giọng Tú, gấp gáp: "Chị ơi, xe bố em về đầu ngõ rồi!"
Ông buông cổ tay tôi ra. Ông nhắm mắt lại.
– Đi đi, – ông nói. – Cửa sau.
Tôi cầm lại mảnh lịch, chạy theo Tú qua hành lang tối, qua gian bếp. Ánh đèn pha ô tô quét qua cửa kính phòng khách đúng lúc tôi lách ra khỏi cửa sau. Tôi đứng nép vào bờ tường xưởng, nghe tiếng cổng sắt mở, tiếng giày cậu Lộc trên nền gạch, tiếng anh ta hỏi Tú sao giờ này còn chưa ngủ. Rồi tôi đi về theo con ngõ tối, tay áp chặt vào túi áo có mảnh lịch, như sợ nó bay mất.
Năm giờ sáng, điện thoại tôi đổ chuông. Tú.
– Chị ơi, ông bị lại rồi. – Nó khóc. – Mẹ em vào thì ông nằm nghiêng, mắt mở mà không nói được. Tay trái cũng không cầm được nữa. Mẹ em gọi cấp cứu rồi.
Xe cấp cứu của bệnh viện tỉnh tới lúc năm giờ bốn mươi, đèn xanh quay loang loáng trên những bức tường xóm Trong, còi tắt từ đầu ngõ. Cả xóm dậy. Người ta đứng chật trước cổng nhà cậu Lộc, đầu tóc rối bù, áo ngủ, áo may ô. Hai nhân viên y tế khiêng cáng ra, ông ngoại nằm trên cáng, trùm chăn tới cằm, mắt nhìn trừng trừng lên trời. Cậu Lộc đi bên cạnh cáng, tay cầm túi giấy tờ, mặt xám như tro. Tôi đứng lẫn trong đám người. Cậu nhìn thấy tôi. Cái nhìn ấy dừng lại trên mặt tôi một giây, rồi trượt đi.
Bà Tần chen qua đám đông. Bà đã vấn khăn, đã mặc áo cánh nâu, tay xách cái cặp lồng. Bà định ra bãi. Rồi bà thấy cái cáng.
Bà đứng sững ở giữa ngõ. Tôi thấy bà nhìn cái cáng, nhìn cái cặp lồng trên tay mình, rồi nhìn ra phía đê, về phía bãi. Cái nhìn ấy đi đi lại lại giữa ba chỗ đó như con thoi. Rồi bà quay sang tôi, dúi cái cặp lồng vào tay tôi.
– Mang về nhà. Để lên thành bể.
– Bà đi đâu?
– Bà đi với anh bà.
Bà leo lên xe cấp cứu, cậu Lộc đỡ khuỷu tay bà. Cửa xe đóng lại. Xe lùi ra khỏi ngõ, đèn xanh lại quay, rồi khuất sau khúc quanh lên đê. Người làng đứng lại thêm một lúc, bàn tán, rồi tản đi. Tôi đứng giữa ngõ, tay cầm cái cặp lồng còn ấm. Tôi nhấc nắp ngăn trên cùng. Cơm trắng. Ngăn giữa, trứng rán. Ngăn dưới, canh bí nấu tôm.
Tôi mang nó về, đặt lên thành bể. Hai tiếng sau, nó vẫn nằm đó.
Chín giờ, Tú sang. Mắt nó đỏ, nhưng nó không khóc nữa.
– Bố em gọi về. Ông phải nằm hồi sức. Cụ Tần không chịu về, cụ đòi ở lại viện trông ông. Mẹ em đi chợ phiên rồi, mẹ em phải đi trả tiền lạt cho người ta. – Nó nhìn cái cặp lồng trên thành bể. – Chị ơi. Hôm nay không ai ra bãi cả.
Tôi đứng dậy.
Bãi ban ngày là một chỗ khác hẳn với bãi ban đêm. Nắng tháng Tám đổ xuống như hắt nước sôi, ngô cao quá đầu đứng im không một ngọn gió, lá ngô cứa vào cánh tay tôi rát buốt. Tú đi trước, lối mòn nó thuộc. Chúng tôi đi mười lăm phút thì hết ngô, sang chuối. Ở mép rặng chuối, một đàn gà mái đang bới đất, thấy người thì kêu toáng lên, xoè cánh chạy tán loạn. Cái máng gỗ đựng thóc của chúng đã rỗng.
Rồi cái kho hiện ra.
Nó nhỏ hơn tôi tưởng. Một căn nhà gạch chỉ một gian, tường không trát, gạch đã ngả màu đỏ sẫm và mọc rêu xanh ở chân, mái ngói vảy cá loang lổ những mảng thay mới. Cửa trước bằng gỗ, hai cánh, khoá bằng một cái khoá móc to như nắm tay, cái khoá còn mới, sáng bóng. Trên cao, gần nóc, có một ô thoáng nhỏ vuông vức, chắn bằng mấy thanh sắt. Không có cửa sổ nào khác. Trước cửa có một khoảng sân đất nện, sạch, không một cọng cỏ, như được quét mỗi ngày.
Tú dẫn tôi vòng ra phía sau. Cửa sau là một cánh cửa đơn ghép bằng ván. Nó đưa tay tìm tấm ván mục hôm trước. Rồi nó dừng lại.
– Chị ơi. Có người đóng lại rồi.
Tấm ván ấy đã được đóng chặt bằng bốn cây đinh mới, đầu đinh còn sáng, chưa kịp gỉ. Còn có thêm một thanh nẹp gỗ đóng ngang bên ngoài.
Nhưng ván ghép thì luôn có khe. Tôi áp mắt vào khe hở rộng nhất, giữa hai tấm ván ở tầm ngực.
Trong kho tối, chỉ có ánh sáng lọt qua ô thoáng trên cao, rọi xuống thành một cột sáng chéo đầy bụi. Phải mấy giây mắt tôi mới quen. Rồi tôi thấy chúng.
Ngựa. Ngựa trắng. Xếp kín ba bức tường từ sàn lên tận xà mái, con này chồng lên lưng con kia, đầu hướng ra giữa phòng, như một bầy ngựa đứng trong chuồng chờ người cho ăn. Hàng chục con. Hàng trăm con. Có con trắng tinh, có con đã ngả màu ngà, có con vàng như lá úa, bờm rũ xuống, chân gãy. Con nào cũng chỉ to chừng gang tay rưỡi. Con nào cũng nhắm mắt.
Giữa phòng là một cái phản gỗ, buông một tấm màn trắng đã vá nhiều chỗ. Cạnh phản có một cái bàn nhỏ, trên bàn có một ngọn đèn dầu, một cái gương tròn, một cái lược. Một cái lọ thuỷ tinh đựng thứ gì đục như hồ. Một cái chậu nhôm. Trên vách, ngay trên đầu phản, có treo một quyển lịch bloc.
Tôi nheo mắt. Tờ trên cùng của quyển lịch, con số đỏ to tướng in giữa tờ, tôi đọc được dù cách mấy mét và trong bóng tối.
Mười bốn. Hôm nay là thứ Sáu, mười bốn tháng Tám.
Có người đã xé tờ lịch ngày hôm qua, sáng nay.
– Có ai không? – Tôi nói, rất khẽ, môi gần chạm vào khe ván.
Không ai trả lời. Trong kho im phăng phắc. Rồi ở góc trong cùng, phía sau dãy ngựa xếp cao nhất, có một tiếng sột soạt. Tiếng giấy cọ vào giấy. Một tiếng thôi. Rồi im.
Tú nắm lấy vai tôi. Nó không nhìn vào khe ván. Nó nhìn về phía con đường mòn sau lưng chúng tôi.
– Xe máy, chị.
Tôi nghe thấy. Tiếng máy nổ từ phía đê, mỗi lúc một gần, tiếng bánh xe nghiến lên lối mòn đất. Tú kéo tôi chạy. Chúng tôi lao vào rặng chuối bên phải kho, ngồi thụp xuống sau một bụi chuối lớn, tàu lá rủ xuống che kín đầu. Đất ẩm, kiến đỏ bò lên mắt cá chân tôi, cắn đau điếng. Tôi không dám cựa.
Chiếc xe máy dừng trước sân kho. Cậu Lộc. Anh ta vẫn mặc cái áo sơ mi hồi sáng, nhàu nát, cổ áo bật một bên. Anh ta xuống xe, đứng nhìn quanh một lúc, nhìn cả về phía rặng chuối nơi chúng tôi đang nấp. Rồi anh ta mở cốp xe, lấy ra một cái cặp lồng nhôm ba ngăn.
Cái cặp lồng tôi đặt trên thành bể nhà cũ sáng nay.
Anh ta mở khoá móc, đẩy một cánh cửa, bước vào, khép cánh cửa lại sau lưng nhưng không đóng hẳn. Qua khe cửa hé, tôi chỉ thấy bóng tối và một mép áo sơ mi của anh ta.
Có tiếng anh ta nói, rất nhỏ, không rõ chữ. Một giọng trầm, đều, kiểu giọng người ta dùng để dỗ một đứa trẻ, hoặc để nói với một người bệnh. Nói một lúc thì ngừng.
Rồi từ trong kho, có tiếng hát.
Tiếng đàn bà. Khàn, nhỏ, đứt quãng, như phát ra từ một cái máy hát đã quá cũ. Hát rất chậm, chữ nọ dính vào chữ kia, có chữ hát sai giọng, có chữ lặp lại hai lần.
Ru hời… ru hỡi… ru hời.
Ngựa ơi nhắm mắt… cho người… qua sông.
Tôi úp mặt vào hai bàn tay. Kiến cắn vào cổ chân, tôi không còn thấy đau.
Cả đời tôi chỉ nghe một người hát bài ấy. Người ấy đã thành tro, đang nằm trong một ngôi chùa ở Gò Vấp.
— Hết chương 16 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe