Chương 1: Con ngựa thứ hai
Con ngựa giấy nằm trong hộp các-tông, hai mắt nhắm, giống hệt con ngựa mẹ tôi giấu dưới đáy tủ suốt hai mươi chín năm.
Tôi đứng dưới sảnh chung cư, cái hộp còn mở nắp trên tay. Hộp nhỏ, cỡ hộp giày trẻ con, dán băng keo trong ba vòng. Ngoài hộp có tờ phiếu bưu phẩm, chữ in của máy, dấu một bưu cục ở Hưng Yên, gửi từ thứ Năm tuần trước. Ô người gửi chỉ có hai chữ viết tay: "Ng." Không số điện thoại, không địa chỉ.
Tôi đậy nắp lại, đi thang máy lên tầng mười hai, tay đỡ đáy hộp như đỡ một cái bánh kem. Tôi không nhớ mình đã mở cửa phòng thế nào. Chỉ nhớ lúc bật đèn bàn, tay tôi đã đeo găng vải, cái kính lúp đã nằm trên trán. Thói nghề. Bảy năm ở phòng tu bổ giấy của một bảo tàng tư nhân, cái gì bằng giấy đặt trước mặt là tay tôi tự làm như vậy, trước khi đầu kịp nghĩ.
Con ngựa dài chừng một gang tay rưỡi, cao tới cằm cái cốc uống nước. Khung bằng nan tre vót mảnh, buộc lạt, lót một lớp giấy bản rồi phủ giấy trắng. Bờm cắt tua kiểu răng cưa, mỗi răng nhọn đều nhau như cắt bằng khuôn. Yên ngựa là một miếng giấy điều gấp đôi, viền giấy trang kim đã hơi xỉn. Hai con mắt không phải hai chấm tròn như ngựa mã người ta bán ở chợ. Người làm nó vẽ hai nét cong úp xuống, mảnh như sợi chỉ, có cả hàng mi. Con ngựa đang ngủ.
Tôi đứng dậy, mở tủ quần áo, lấy cái hộp bánh quy bằng sắt ở ngăn dưới cùng ra.
Hộp bánh ấy tôi tìm thấy hôm hai mươi tám tháng Tư, lúc dọn cái tiệm sửa quần áo của mẹ trong một con hẻm ở Gò Vấp. Mẹ mất ngày mười tháng Ba. Tôi để tiệm đóng cửa gần hai tháng mới dám vào dọn. Giữa đống chỉ, kim, phấn may, những cái quần tây khách gửi lên lai rồi không bao giờ quay lại lấy, cái hộp bánh nằm dưới đáy tủ gỗ, bọc ngoài hai lớp túi ni lông, buộc thun. Trong hộp là một con ngựa giấy trắng, cổ quấn một sợi chỉ đỏ, hai mắt nhắm.
Giờ tôi đặt hai con cạnh nhau dưới đèn.
Con của mẹ giấy đã ngả màu ngà, mép bờm giòn, vài chỗ nổi những đốm nâu li ti mà dân nghề tôi gọi là vết cáo. Giấy bột gỗ, loại rẻ, để lâu thì vậy. Con mới trắng tinh, giấy còn thơm mùi xưởng in. Nhưng tôi chỉ cần nhìn chỗ lạt buộc ở cổ chân là biết. Cả hai con, nút lạt đều thắt hai vòng rồi giắt đầu lạt vào trong, không để thò ra. Cả hai con, chân sau bên trái đều ngắn hơn ba chân kia chừng một li, đủ để con ngựa đứng hơi nghiêng, như đang dồn sức lên chân phải mà bước. Cả hai con, răng cưa trên bờm đều mười một răng.
Người ta có thể học theo một kiểu ngựa. Nhưng không ai cố tình học cái chân ngắn.
Tôi cúi sát xuống con mới, ngửi. Mùi chua nhẹ của hồ bột sắn. Lấy đầu que tre ấn thử vào mép giấy chỗ bụng, hồ còn dẻo, chưa khô hẳn vào giấy. Hồ nấu bằng bột sắn mà khô cứng thì phải vài tháng. Con này làm chưa tới một tháng, có khi chỉ hai ba tuần. Tôi đặt nó lên lòng bàn tay. Nó nhẹ, nhưng nhẹ không đều. Phía bụng nặng hơn, lệch về bên trái một chút, như có ai giấu trong bụng nó một hòn sỏi nhỏ. Tôi nghĩ chắc là cục hồ đọng trong khung, hoặc người làm chêm thêm nan để nó đứng vững. Tôi không mở. Ở phòng tu bổ, luật đầu tiên người ta dạy tôi là: cái gì không cần mở thì đừng mở.
Nhưng có một thứ không cần mở mà tôi vẫn thấy. Dưới miếng giấy điều làm yên ngựa, có một góc giấy khác màu thò ra.
Tôi lấy cái nhíp, nâng mép yên lên. Một mảnh giấy gấp tư, mỏng, màu vàng sậm hơn hẳn con ngựa. Tôi kẹp nó ra, đặt lên tấm kính, mở từng nếp bằng que gạt. Giấy giòn, nếp gấp đã thành nếp chết, kiểu nếp chỉ có khi giấy bị gấp rồi nằm yên nhiều năm. Một mặt in chữ đỏ, là nửa dưới của một tờ lịch bloc, loại lịch xé mỗi ngày một tờ. Nửa trên đã bị xé mất, con số ngày to đùng in giữa tờ không còn, chỉ còn mấy dòng chữ nhỏ ở dưới. Tôi đọc được hai chữ "tháng Chạp", chữ "năm Bính Tý" ngay dưới. Dòng in tên ngày âm lịch bị một vệt ố nước loang qua, chỉ còn mấy nét lờ mờ. Mặt kia viết bằng bút bi xanh, mực đã phai sang màu tím nhạt như vết bầm cũ.
Dòng trên, nét chữ tròn, hơi nghiêng: "Đan Lam".
Dòng dưới, nét run hơn, như người viết phải dừng lại giữa chừng: "Rằm tháng Bảy chị đưa con về".
Tôi tên là Nghiêm Đan Lam. Tôi sinh tháng Giêng năm chín mươi bảy, trước Tết, mẹ vẫn bảo tôi tuổi con chuột, sinh vào tháng Chạp năm Bính Tý. Tờ lịch này là của cái tháng tôi ra đời.
Tôi ngồi như vậy chắc lâu lắm, vì lúc tôi nhìn lên thì đèn hành lang bên ngoài đã tắt theo giờ tiết kiệm điện, chỉ còn cái đèn bàn soi vào hai con ngựa. Con của mẹ nằm nghiêng vì cái chân ngắn. Con mới đứng được, nhờ cái gì đó nặng trong bụng nó.
Mẹ tôi gấp giấy giỏi lắm. Hồi nhỏ, nhà hai mẹ con chỉ có một căn gác gỗ thuê trong hẻm, mùa mưa dột ba chỗ. Tôi không có nhiều đồ chơi, nhưng tôi có cả một sở thú bằng giấy. Mẹ ngồi bên máy may, giữa hai đường may lại lấy tờ giấy báo cũ, tờ lịch, tờ giấy gói xôi, gấp cho tôi con cò, con ếch biết nhảy, con voi có vòi cong, con trâu có sừng xoắn. Có lần tôi đòi một con ngựa. Mẹ ngừng tay, nhìn tờ giấy một lúc lâu rồi bảo: "Ngựa khó lắm, mẹ gấp cho con con hươu nghen." Năm ấy tôi bảy tuổi, tôi khóc, mẹ vẫn gấp con hươu. Cả đời mẹ, tôi chưa bao giờ thấy mẹ gấp một con ngựa.
Mẹ cũng không bao giờ đốt vàng mã. Rằm tháng Bảy, cả hẻm bày bàn cúng ra trước cửa, khói nghi ngút, giấy tiền bay đầy đường, hàng xóm còn đốt cả nhà lầu, xe hơi giấy. Mẹ đóng cửa, bật quạt, ngồi trong nhà với tôi, mở radio thật to. Tôi hỏi sao nhà mình không cúng, mẹ nói nhà mình cúng trong bụng. Lớn lên tôi vào nghề giữ giấy, cái nghề sợ nhất trên đời là lửa với nước. Có lẽ cái sợ lửa của tôi có từ những buổi rằm tháng Bảy ngồi trong căn gác kín, nghe tiếng giấy cháy lép bép ngoài cửa mà mẹ thì nắm chặt tay tôi.
Mẹ là người Bắc, ba mươi năm ở Sài Gòn vẫn "thế à", "con ơi", "mẹ đây". Mẹ không bao giờ kể về quê. Tôi chỉ biết mẹ ở một làng ven sông Hồng bên Hưng Yên, nhà làm nghề, bỏ vào Nam năm tôi mới được vài tháng tuổi. Hỏi bố tôi là ai, mẹ nói một người đã mất trước khi tôi kịp có trí nhớ, rồi bỏ đi pha trà. Trong giấy khai sinh của tôi, ô tên cha bỏ trống. Tôi mang họ mẹ.
Đêm nào mẹ cũng hát ru tôi bằng một bài tôi chưa từng nghe ai khác hát. Giọng mẹ khàn, hát rất nhỏ, như sợ có ai ngoài cửa nghe được:
Ru hời ru hỡi ru hời,
Ngựa ơi nhắm mắt cho người qua sông.
Qua sông thì nhớ bến không,
Bến thì còn đó, người không thấy về.
Hồi bé, tôi tưởng đó là bài hát về một con ngựa buồn ngủ. Tới tối nay, với hai con ngựa nhắm mắt trên bàn, tôi mới thấy câu hát ấy không dỗ ai ngủ cả.
Mẹ bệnh gan, phát hiện muộn, từ lúc bác sĩ nói tới lúc mẹ đi là năm tháng. Đêm cuối cùng, gần sáng, mẹ mở mắt, nắm cổ tay tôi, mạnh tới mức tôi giật mình. Mẹ nói hai câu, ngắt quãng, giọng như người vừa chạy xa về.
– Đừng đốt con ngựa.
Rồi mẹ thở, rất lâu, mới nói tiếp:
– Đưa mẹ về với dì.
Tôi hỏi con ngựa nào, dì nào. Mẹ không trả lời nữa. Bảy giờ sáng hôm ấy mẹ đi. Tôi chưa bao giờ biết mình có dì. Tôi cho mẹ hoả táng như mẹ dặn từ trước, gửi tro ở một ngôi chùa nhỏ gần nhà. Câu "đừng đốt con ngựa" tôi nghĩ là mẹ mê sảng. Tới hôm dọn tiệm, mở cái hộp bánh, tôi mới hiểu mẹ không mê. Mẹ biết mình để cái gì dưới đáy tủ. Câu thứ hai thì tôi vẫn chưa hiểu.
Còn một chuyện nữa. Cuối tháng Ba, mười mấy ngày sau đám tang, có một số máy lạ gọi cho tôi lúc chín giờ tối. Đầu dây là một giọng đàn bà rất già, giọng Bắc đặc, nói chậm, tiếng thở phì phò như có cái gì trong miệng.
– Có phải con Lam đấy không? Tao là bà Tần. Cô ruột của mẹ mày đây.
Bà hỏi mẹ tôi có khoẻ không. Tôi nói mẹ con mất rồi, mất được hai tuần. Đầu dây im rất lâu. Rồi bà hỏi mẹ tôi mất ngày nào, có kịp dặn dò gì không. Tôi không nói về con ngựa. Tôi chỉ nói mẹ dặn không báo cho ai ngoài ấy. Câu đó tôi nói hơi gắt. Hai mươi chín năm không một ai ngoài ấy hỏi thăm mẹ con tôi, giờ mẹ mất thì gọi. Bà Tần không giận. Bà nói một câu mà tới giờ tôi vẫn nhớ từng chữ:
– Ừ. Thế thì năm nay mày đừng về làng. Năm nay năm Bính. Rằm tháng Bảy đừng về.
Rồi bà cúp máy. Tôi gọi lại, không ai nghe. Tôi lưu số ấy với cái tên "Bà Tần – Hưng Yên" rồi để đó, như người ta để một cái hộp không định mở.
Giờ trên tay tôi có một mảnh giấy viết "Rằm tháng Bảy chị đưa con về".
Một giọng bảo đừng về. Một nét chữ bảo về.
Tôi chụp ảnh mảnh giấy, cả hai mặt, gửi cho cô Diệp, người dạy nghề cho tôi, kèm một dòng hỏi cô thấy giấy với mực này chừng bao nhiêu năm. Mười một giờ đêm cô gọi lại, giọng ngái ngủ.
– Lịch bloc giấy in báo, con. Loại này để chừng hai ba chục năm là vàng sậm vậy đó. Mực bút bi ngả tím, nét còn lún, chắc cũng ngần ấy năm. Mà ai gửi con cái này?
– Con hông biết, cô.
Vậy là tên tôi được viết lên mảnh giấy này từ hồi tôi còn đỏ hỏn, bởi một người gọi ai đó là chị. Rồi gần đây, có người lấy nó ra, giắt vào một con ngựa vừa làm, gửi cho tôi.
Thứ Tư, gần sáu giờ chiều, lúc tôi đang rửa cọ, điện thoại đổ chuông. Số lạ, đầu số ngoài Bắc.
– Alô, có phải cháu Lam đấy không? – Giọng đàn ông, trẻ hơn tôi tưởng, nói tròn vành, có chút lịch sự của người hay nói chuyện làm ăn. – Cậu là Lộc đây. Nghiêm Văn Lộc. Em trai út của mẹ cháu. Chắc mẹ cháu chưa bao giờ kể về cậu, cậu biết.
Tôi tắt vòi nước.
– Dạ. Mẹ con không kể.
– Ừ. Cậu cũng đoán thế. – Anh ta cười một tiếng ngắn, không vui. – Chuyện người lớn ngày xưa, cháu đừng để bụng. Cậu gọi là vì ông. Ông ngoại cháu năm nay tám mươi sáu, bị tai biến mấy năm nay, lúc nhớ lúc quên. Từ hôm nghe tin mẹ cháu mất, lúc nào tỉnh ông cũng chỉ hỏi một câu là bao giờ con Lam về. Cậu khất mãi, ông giận, đòi tự đi vào Nam. Ông không đi nổi đâu.
– Ông muốn gặp con làm gì?
– Ông muốn nhìn mặt cháu. – Anh ta ngừng một chút. – Với lại ông bảo, rằm tháng Bảy năm nay ông có chuyện phải nói trước họ hàng làng xóm, mà phải có mặt cháu thì ông mới nói. Chuyện gì thì cậu chịu, ông không nói với ai. Vé máy bay cậu lo. Cháu về chơi ít hôm, cho ông vui, rồi cậu đưa ra sân bay. Nhà cửa ngoài này rộng lắm.
– Cậu ơi, – tôi nói, cái tiếng "cậu" lạ trong miệng như nhai phải sạn, – tuần trước có ai ngoài đó gửi đồ vào cho con không?
– Đồ gì cháu?
– Một cái hộp. Gửi từ Hưng Yên.
– Không, cậu không gửi gì. – Giọng anh ta vẫn tròn, vẫn nhẹ, không có một chỗ nào vấp. – Hay cụ Tần gửi? Cụ già rồi, hay làm mấy việc chẳng ai hiểu. Mà hộp gì thế?
– Dạ, chắc đồ chơi. Không có gì.
Tôi không biết vì sao tôi nói dối. Có lẽ vì cái giọng nói không vấp ấy. Người ta chỉ nói trơn tru như vậy khi đã chuẩn bị trước.
Đêm ấy tôi đặt vé chuyến sáng thứ Sáu. Cậu Lộc trả lời tin nhắn ngay trong một phút, bảo sẽ ra Nội Bài đón tận nơi. Tôi xin nghỉ phép mười ngày. Tôi soạn va-li, bỏ vào mấy bộ quần áo, túi đồ nghề, cây đèn cực tím cầm tay. Rồi tôi bọc con ngựa của mẹ bằng giấy lụa, đặt lại vào hộp bánh sắt, để dưới đáy va-li. Con ngựa mới tôi bọc riêng, cho vào cái hộp nhựa đựng đồ nghề, để trong ba lô, thứ tôi sẽ đeo trên lưng suốt chuyến đi.
Trước khi tắt đèn, tôi lấy cả hai con ra lần cuối, đặt cạnh nhau trên bàn.
Hai con ngựa trắng. Hai cái chân sau bên trái ngắn hơn một li. Hai cặp mắt vẽ úp xuống như đang ngủ. Một con được làm hai mươi chín năm trước. Một con được làm trong tháng này, hồ còn chưa khô.
Bàn tay làm con ngựa cho mẹ tôi năm ấy vẫn còn sống. Và bàn tay ấy biết tên tôi.
— Hết chương 1 —
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe