AI Truyện
Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

🕯️ Truyện ma kinh dị

Làng phơi ngựa

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã · Chương 2/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Làng phơi ngựa

Cậu Lộc nhận ra tôi trước khi tôi kịp nhìn thấy cái bảng tên nào. Anh ta đứng ở cột thứ ba ngoài cửa ga đến, giữa một đám người cầm giấy ghi tên khách, tay không, áo sơ mi trắng cộc tay, kính gọng mảnh. Tôi vừa đẩy va-li ra khỏi cửa kính thì anh ta đã giơ tay lên, gọi một tiếng "Lam" rõ to, như thể đã gọi cái tên ấy nhiều lần lắm rồi.

– Nhìn là biết ngay. – Anh ta cầm lấy tay kéo va-li của tôi, không hỏi. – Người nhà mình đi đâu cũng nhận ra nhau.

Kém mẹ tôi mấy tuổi mà trông trẻ hơn cả chục, cao, vai rộng, tóc chải gọn, da sạm kiểu người hay đi ngoài nắng mà vẫn biết giữ mình. Lúc anh ta cười, tôi thấy dưới cằm có một vết sẹo nhỏ, trắng, dài chừng đốt ngón tay, cong như cái móc câu. Tay anh ta bắt tay tôi chắc và khô.

Chín giờ sáng thứ Sáu mà trời Hà Nội đã hầm như cái nồi đậy vung. Chiếc xe bán tải màu ghi của anh ta đậu ở bãi ngoài, thùng sau phủ bạt, mùi giấy với mùi hồ vẫn còn vương trong cabin dù điều hoà đã bật hết cỡ. Trên taplô có một con ngựa giấy đỏ nhỏ bằng bao diêm, dán băng keo hai mặt, đầu gật gù theo mỗi ổ gà.

– Hàng mẫu, – cậu Lộc nói, thấy tôi nhìn. – Khách Hàn đặt làm đồ trang trí. Giờ mã đốt ít đi rồi cháu ạ, làng mình phải tính đường khác. Cậu làm thêm đèn lồng giấy, đồ trang trí, xuất đi mấy nước. Không thì chết đói.

Anh ta nói suốt chặng đường. Về giá giấy lên, về chuyện vận động bớt đốt vàng mã, về mấy đơn hàng đèn lồng mùa xuân bị huỷ, về đường cao tốc mới mở rút ngắn được hai mươi phút. Giọng anh ta có cái nhịp của người quen thuyết phục khách. Câu nào cũng tròn, câu nào cũng có chỗ cho người nghe gật đầu. Chỉ có một lúc anh ta im. Lúc tôi kể những ngày cuối của mẹ.

– Mẹ cháu có nhắc gì đến nhà không? – anh ta hỏi, mắt vẫn nhìn đường.

– Dạ không. Mẹ con chỉ nói một câu, là đưa mẹ về với dì.

Ngón tay anh ta đang gõ nhịp trên vô lăng ngừng lại một nhịp, rồi gõ tiếp.

– Dì Đào, – anh ta nói. – Em gái mẹ cháu, chị thứ hai của cậu. Mất lâu rồi, từ trước khi cháu ra đời. Chết đuối. Rằm tháng Bảy năm chín sáu, ngay bến sông nhà mình.

– Mẹ con chưa bao giờ kể.

– Ừ. Chuyện buồn thì người ta cất đi.

Anh ta bật xi nhan, rẽ lên dốc cầu. Dưới chân cầu là sông Hồng mùa nước lớn, rộng mênh mông, đỏ quạch như ai vừa đổ cả triệu gánh đất vào khuấy lên. Những đám bèo tây trôi nhanh hơn tôi tưởng. Trên mặt nước, một cành cây lớn xoay tròn rồi chìm hẳn xuống, lát sau mới nổi lên ở chỗ khác xa tít. Tôi nhìn theo nó cho tới khi xe xuống khỏi cầu.

Sau đó là đê. Con đường chạy trên mặt đê. Một bên là làng, mái ngói mái tôn chen nhau dưới những lùm nhãn sẫm. Một bên là bãi ngoài, ngô cao quá đầu người, rồi chuối, rồi một dải nước đỏ ở rất xa. Cậu Lộc chỉ cho tôi từng chỗ. Kia là xóm Bãi, mấy cái lều chân cao ngoài sông. Kia là bến Vó, chỗ có cây gạo to, có miếu Cô. Kia là cánh đồng mộ họ nhà mình. Tôi gật đầu theo, không nhớ được gì, cho tới khi xe rẽ xuống một con dốc và làng Phù Mã hiện ra.

Lần đầu tiên trong đời tôi thấy nhiều ngựa như vậy.

Sân nhà nào cũng có ngựa. Ngựa đỏ, ngựa trắng, ngựa đen, ngựa cao ngang vai người, đứng thành hàng dưới nắng, bờm giấy lay lay theo gió. Có sân chỉ toàn những khung tre trơ xương chưa dán giấy, như một đàn ngựa bị lột da. Có sân xếp hình nhân, mặt tô phấn hồng, mắt vẽ to, đứng dựa tường, áo giấy xanh đỏ. Những người đàn bà ngồi xổm dưới mái hiên, đầu đội nón, tay quét hồ, dán giấy, nhanh tới mức tay như không động. Một chiếc xe tải đang đỗ giữa đường, mấy thanh niên cởi trần chuyền lên thùng những chiếc nhà lầu bằng giấy cao hơn cả người, chuẩn bị chở lên phố Hàng Mã. Mùi hồ chua bốc lên từ khắp các ngõ, lẫn với mùi rơm, mùi khói bếp, mùi phân gà, mùi nhãn chín.

– Tháng Sáu, tháng Bảy là mùa, – cậu Lộc nói. – Cả làng làm ngày làm đêm. Qua rằm là vãn.

Tôi nhìn những con ngựa trắng trên sân. Con nào cũng mở mắt. Hai chấm đen to, tròn, có viền trắng, nhìn thẳng ra đường.

Nhà cậu Lộc ở giữa xóm Trong, ba tầng, ốp đá xám, cổng sắt sơn vàng, phía sau là một cái xưởng mái tôn rộng, có tiếng máy cắt giấy chạy rè rè. Một người đàn bà tầm bốn mươi lăm, tóc cột cao, mặc bộ đồ lanh màu cà phê sữa, đứng chờ ở bậc thềm, hai tay khoanh trước ngực.

– Mợ Thoa đây, – cậu Lộc giới thiệu. – Mợ cháu.

– Cô cháu Sài Gòn về đấy à, – mợ Thoa nói, mắt nhìn cái va-li của tôi trước, nhìn tôi sau. – Đi đường có mệt không? Vào uống nước đã.

Câu hỏi thăm của mợ đều đặn như người đọc bản tin. Trong nhà, phòng khách lát gạch bóng, bộ bàn ghế gỗ chạm, trên tường treo kín những tấm bằng khen và ảnh chụp cậu Lộc bắt tay người này người kia. Một cậu con trai gầy, cao lêu nghêu, mặc áo phông in hình con mèo, đứng ở chân cầu thang cầm điện thoại. Nó nhìn tôi chằm chằm, tới khi tôi nhìn lại thì nó quay đi.

– Tú, chào chị đi con.

– Em chào chị.

– Tú nhà cậu vừa thi tốt nghiệp xong, đang chờ kết quả xét tuyển. – Cậu Lộc vỗ vai con. – Suốt ngày điện thoại.

Thằng bé lẩm bẩm gì đó, rồi lên lầu. Tới bậc thứ năm, nó dừng lại, ngoái xuống nhìn tôi thêm một lần nữa. Không phải kiểu nhìn tò mò của đứa em họ lần đầu gặp chị. Kiểu nhìn của người đang so một thứ với một thứ khác.

Ông ngoại đang ngủ. Cậu Lộc bảo buổi sáng ông hay mệt, chiều tỉnh hơn, mai hẵng gặp. Còn chỗ ngủ thì cụ Tần nhất định bắt tôi sang nhà cũ.

– Cụ bảo cháu là con gái họ Nghiêm, về thì phải ngủ nhà gốc, – cậu Lộc cười. – Người già có lệ của người già. Nhà ấy hơi cũ, không có điều hoà, cháu chịu khó. Nóng quá thì sang đây.

Nhà cũ ở cuối xóm, sát chân đê, cách nhà cậu Lộc chừng hai trăm mét theo một con ngõ lát gạch nghiêng. Năm gian nhà gỗ, mái ngói mũi hài phủ rêu, sân gạch đỏ đã lõm thành vũng ở mấy chỗ. Cây cau già trước sân nghiêng hẳn về phía đê. Bể nước mưa xây vuông có cái gáo dừa úp trên thành. Sau nhà là bờ đê dựng đứng, cao hơn nóc nhà, cỏ gà mọc kín. Đứng ở sân, tôi nghe được tiếng xe máy chạy trên mặt đê ngay trên đầu mình.

Cụ Tần ngồi trên chiếc chõng tre ngoài hiên. Một bà cụ nhỏ thó, lưng còng gập, đầu vấn khăn nhung đen kiểu xưa, áo cánh nâu, quần lụa đen. Miệng bà nhai trầu, môi đỏ thẫm, hàm răng đen bóng. Bà không đứng dậy. Bà chỉ nhìn.

Tôi đã quen với những cái nhìn vào hiện vật, cái nhìn của người đang xác định tuổi một tờ giấy. Cái nhìn của cụ Tần giống như vậy. Bà nhìn tóc tôi, trán tôi, cằm tôi, hai bàn tay tôi. Tới khi tôi khẽ cười chào, bà nhìn vào miệng tôi, rất lâu, như người tìm một vết đã biết trước là có ở đó.

– Giống, – bà nói. – Giống quá.

– Dạ, giống mẹ con hả bà?

Bà không trả lời. Bà nhổ bã trầu vào cái ống nhổ bằng đồng dưới chân chõng, lau miệng bằng vạt khăn, rồi mới nói:

– Mày gầy thế. Trong ấy không có cơm à?

Rồi bà chống gậy đứng dậy, dẫn tôi vào nhà.

Buồng của mẹ tôi ở gian bên trái. Bà Tần gọi nó là buồng con Mận, như thể mẹ tôi chỉ vừa đi chợ chưa về. Một cái giường gỗ có bốn cột màn, một cái rương sơn then, một cái gương tráng thuỷ treo trên vách đã bong lốm đốm như mặt nước có váng. Cửa sổ song gỗ trông ra con ngõ dốc dẫn lên đê. Trên vách có một tấm lịch tờ năm nay, in hình hoa sen. Trong buồng thơm mùi long não và mùi chiếu cói mới giặt. Có người đã dọn buồng này rất kỹ trước khi tôi đến.

– Mẹ con ngủ ở đây hả bà?

– Từ lúc lọt lòng tới lúc đi. – Bà Tần vén màn, phẩy phẩy cái chiếu. – Hai chị em nó ngủ chung cái giường này. Con Mận nằm trong, con Đào nằm ngoài. Con Đào hay đạp chăn.

Đó là lần đầu tiên tôi nghe ai đó nói về dì Đào như một người từng đạp chăn, chứ không phải một người đã chết.

Bữa trưa, bữa tối tôi ăn với bà ở nhà cũ, trên cái mâm nhôm đặt giữa phản. Cá rô đồng kho tộ, canh mồng tơi nấu tôm, đĩa cà pháo muối xổi. Bà gắp cho tôi miếng cá ngon nhất, rồi bóc nhãn, đặt từng quả vào bát tôi. Bà hỏi về mẹ. Hỏi mẹ ốm có đau không, cuối cùng có tỉnh không, có ai bên cạnh không. Tôi kể hết. Bà nghe, không khóc, chỉ có cái cằm nhai trầu dừng lại rất lâu, rồi nhai tiếp.

– Nó có giữ con ngựa không? – bà hỏi, đột ngột, mắt nhìn vào bát nước chè.

Tôi đặt đũa xuống.

– Con ngựa nào bà?

Bà nhìn tôi một lúc, rồi nhìn đi chỗ khác.

– Không có gì. Bà lẩm cẩm. Ăn đi.

Tối, trước khi bà sang buồng bên kia ngủ, bà đứng ở ngưỡng cửa buồng tôi, chống gậy, nói thêm hai điều. Giọng bà không to, nhưng là giọng của người đã nói câu ấy nhiều lần trong đời.

– Tối đừng ra bãi. Đêm nghe thấy gì cũng đừng mở cửa sổ.

– Nghe gì hả bà?

– Thì nghe gì cũng đừng mở. – Bà kéo cánh cửa buồng khép lại sau lưng. – Ngủ đi.

Đêm ở làng không yên như tôi tưởng. Ếch nhái kêu từ cánh đồng sau xóm, ồm ộp từng đợt. Muỗi vo ve ngoài màn. Cái quạt cây cũ quay chậm, kêu cạch một tiếng mỗi lần đổi hướng. Thỉnh thoảng có tiếng xe tải chạy trên mặt đê ngay trên mái nhà, làm rung cả song cửa. Tôi nằm nhìn đỉnh màn, nghĩ về cái giường này, về hai đứa con gái nằm chung, một đứa nằm trong, một đứa nằm ngoài hay đạp chăn. Đứa nằm ngoài chết đuối năm hai mươi mốt tuổi. Đứa nằm trong bỏ đi, ba mươi năm không về, rồi trước khi chết đòi được về nằm cạnh đứa kia.

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Tôi tỉnh dậy vì một tiếng động rất nhỏ.

Đồng hồ điện thoại chỉ hai giờ mười bảy phút. Cái quạt vẫn quay. Ếch nhái đã im. Cả xóm im như bị ai úp nắp lên. Rồi tôi nghe thấy nó lần nữa, ngay bên ngoài cửa sổ. Tiếng sột soạt. Không phải tiếng lá. Tôi đã nghe tiếng này mỗi ngày trong bảy năm, ở phòng làm việc, khi một tờ giấy khô bị kéo nhẹ trên mặt gỗ. Tiếng giấy chạm vào gỗ. Rồi một tiếng cộc rất khẽ, như có ai đặt một vật nhẹ xuống bậu cửa.

Tôi nằm yên. Tim tôi đập lên tận cổ.

Ngoài kia có tiếng thở. Hay tôi tưởng là có. Cái quạt quay lại phía cửa sổ, kêu cạch, và tôi không còn nghe được gì nữa.

Rồi chó sủa. Một con ở ngay đầu ngõ, rồi con thứ hai, thứ ba, dọc theo chân đê, xa dần về phía bến sông, như một cái gì đi qua từng nhà và từng nhà lần lượt báo tin. Rồi lại im.

Tôi không mở cửa sổ. Tôi nằm như vậy tới khi con gà đầu tiên trong xóm gáy, tới khi khe cửa ngả sang màu xám, tới khi tiếng chổi tre của ai đó bắt đầu quét sân ở nhà bên. Bốn giờ bốn mươi. Trời đã đủ sáng để tôi tự nói với mình rằng không có gì phải sợ.

Tôi kéo then, đẩy hai cánh cửa sổ ra.

Trên bậu cửa, cách tay tôi chừng một gang, có một con ngựa giấy trắng. Nó đứng hơi nghiêng, chân sau bên trái ngắn hơn ba chân kia. Hai mắt nó nhắm.

Tôi chạm đầu ngón tay vào bụng nó. Hồ còn ướt, dính vào da tay tôi.

— Hết chương 2 —

Mục lục Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

  1. 1Con ngựa thứ hai11 phút
  2. 2Làng phơi ngựa11 phút đọc
  3. 3Ngựa bị bịt mắt10 phút đọc
  4. 4Miếu Cô10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ có tên mẹ10 phút đọc
  6. 6Lá thư của mẹ10 phút đọc
  7. 7Tờ khai tử10 phút đọc
  8. 8Bộ rập trên gác xép10 phút đọc
  9. 9Ngày tôi ra đời10 phút đọc
  10. 10Lệ năm Bính Ngọ10 phút đọc
  11. 11Người đỡ đẻ xóm Đê10 phút đọc
  12. 12Bùn bến Cát10 phút đọc
  13. 13Chiếc dép đỏ10 phút đọc
  14. 14Mùng Một tháng Bảy10 phút đọc
  15. 15Những con ngựa trước cửa nhà cậu9 phút đọc
  16. 16Bài ru trong kho10 phút đọc
  17. 17Chìa khoá của bà10 phút đọc
  18. 18Người đàn bà ở bến Cát10 phút đọc
  19. 19Hộp sắt của dì12 phút đọc
  20. 20Lời bà Tần11 phút đọc
  21. 21Mưa ngâu11 phút đọc
  22. 22Người cưỡi10 phút đọc
  23. 23Lời bà Lý10 phút đọc
  24. 24Đoàn kiểm đếm dời ngày10 phút đọc
  25. 25Chiếc xe trên đê10 phút đọc
  26. 26Người chết trên giấy10 phút đọc
  27. 27Người làng nói10 phút đọc
  28. 28Chấm mực ở cằm11 phút đọc
  29. 29Đêm rằm10 phút đọc
  30. 30Kho cháy10 phút đọc
  31. 31Trước miếu Cô10 phút đọc
  32. 32Điểm mắt10 phút đọc
  33. 33Ông ngoại10 phút đọc
  34. 34Kết quả giám định10 phút đọc
  35. 35Tro của mẹ10 phút đọc
  36. 36Bến Cát12 phút đọc

Về truyện này

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →