Chương 20: Lời bà Tần
Ông Thạc không trả lời ngay. Ông đứng giữa vũng nước đỏ, nhìn người đàn bà ở ngưỡng cửa như người ta nhìn một ngọn đèn sắp tắt, sợ thở mạnh.
– Thuyền… – ông nói. Rồi ông nuốt khan, nói lại cho tròn chữ. – Thuyền anh để dưới bến. Nước to quá. Chờ nước xuống.
Người đàn bà gật đầu, như câu ấy là câu bà vẫn chờ nghe. Bà bước xuống bậc cửa, đi tới trước mặt ông, chân trần lội qua vũng nước. Bà cầm lấy bàn tay trái của ông, giơ lên, nhìn cái ngón trỏ cụt một đốt, đầu ngón tròn và bóng.
– Tay anh… sao thế?
– Vó cắt. – Ông nói. – Lâu rồi.
Bà cau mày, lật bàn tay ông đi lật lại, như một người thợ cầm một con ngựa bị gãy chân mà không nhớ mình làm gãy lúc nào. Bà không hiểu. Trong cái chỗ bà đang đứng, ngón tay ấy vẫn còn nguyên. Rồi bà buông tay ông ra, nói một câu rất khẽ, "Chờ chị Mận", và quay vào kho. Tôi nghe tiếng phản kẽo kẹt, tiếng màn kéo lại. Bà ngủ ban ngày. Ba mươi năm nay chắc vẫn thế, ngày ngủ, đêm đi.
Ông Thạc ngồi xuống. Không phải ngồi. Hai đầu gối ông khuỵu xuống bùn, ông chống hai tay xuống đất, đầu cúi gập, như người bị đánh vào bụng. Tôi đứng ở ngưỡng cửa, không biết làm gì với hai bàn tay mình.
– Từ năm chín sáu, – tôi nói. – Dì ở đây từ năm chín sáu, chú ạ.
Ông không ngẩng lên.
– Ai? – ông nói vào mặt đất. – Ai nhốt cô ấy?
– Con chưa biết hết. Bà Tần biết.
Tôi đi vào kho, bê cái rổ tre ra, đặt xuống trước mặt ông. Ông nhìn những cái lược hồng, những chùm cuống nhãn khô đen. Ông nhặt một cái lược lên, cái lược còn nguyên răng, xoay nó trong mấy ngón tay. Rồi ông bóp chặt nó trong lòng bàn tay, chặt tới mức tôi nghe nhựa kêu răng rắc, và ông khóc. Tôi chưa từng thấy một người đàn ông năm mươi tư tuổi khóc như vậy. Không ra tiếng. Chỉ có hai vai rung lên, và nước mắt rơi thẳng xuống bùn.
Bảy giờ, tôi để ông ngồi lại ở cửa kho. Ông không cần tôi dặn. Ông nói ông không đi đâu cả.
Nhà cũ có mùi dầu gió và mùi cháo hành. Tú đang ngồi trên bậc thềm, hai tay ôm gối, thấy tôi thì đứng phắt dậy. Mắt nó trũng, áo mặc trái mà không biết.
– Bác sĩ trạm y tế đến rồi, chị. Chị Hạnh. – Nó nói một mạch. – Chị ấy bảo hông cụ bầm, chắc không gãy nhưng phải đi chụp phim. Cụ không chịu. Sốt là do dầm mưa, chị ấy cho uống thuốc hạ sốt rồi. Em nấu cháo, cụ ăn được mấy thìa. – Nó ngừng lại, nhìn tôi từ đầu tới chân, từ cái quần bết bùn tới hai bàn tay xước. – Chị… dì Đào thật à chị?
– Thật.
Nó đứng im. Rồi nó quay đi, đưa tay quệt mắt bằng cái tay áo mặc trái.
Bà Tần nằm trên giường trong buồng bà, đắp tấm chăn mỏng tới ngực. Không có khăn vấn, tóc bà bạc trắng, mỏng, xoã trên gối, làm bà trông nhỏ hơn bao giờ hết. Bà nghe tiếng tôi, quay đầu ra. Bà không hỏi. Bà nhìn bùn trên người tôi.
– Con gặp dì rồi bà, – tôi nói.
Bà nhắm mắt lại.
– Nó có ra sông không?
– Có. Con kéo dì về.
– Giời ơi. – Bà nói, giọng như hơi gió lọt qua kẽ cửa. – Giời ơi là giời.
Một lúc lâu, bà mới mở mắt.
– Thằng Thạc biết chưa?
– Chú ấy đang ngồi ở cửa kho.
Bà chống tay định ngồi dậy, rồi nhăn mặt nằm xuống. Bà thở dốc một lúc.
– Gọi nó lên đây. – Bà nói. – Bà nói một lần. Hai lần bà không nói được.
Tú ra kho thay. Gần chín giờ, ông Thạc lên tới nhà cũ.
Ông dừng lại ở ngoài cổng. Tôi thấy ông qua cửa sổ buồng bà Tần: đứng ngoài hai cánh cổng gỗ, cái áo lính bết bùn, như một người đứng trước cửa đình mà không được phép vào. Ba mươi năm hai nhà không nhìn mặt nhau. Có lẽ ông chưa từng bước qua cái cổng này lần nào.
Bà Tần cũng nhìn thấy ông, qua cùng cái cửa sổ ấy.
– Vào đi, – bà nói, to hơn tôi tưởng bà còn nói được. – Ngày xưa chú Hoè mày cũng đứng ở đúng cái cổng ấy.
Ông Thạc vào. Ông đứng ở cửa buồng, không ngồi. Tôi kéo cho ông cái ghế đẩu, ông vẫn không ngồi. Bà Tần nhìn ông một lúc, rồi quay mặt lên đỉnh màn, và bà kể.
Bà kể như người ta tháo một cái khung ngựa buộc chặt: tháo từng nút, không vội, không bỏ nút nào.
Đêm rằm năm Bính Tý, bà cũng đứng ở miếu Cô. Thuyền lễ thả đèn xong, bà đang cùng mấy bà trong họ dọn mâm thì có người chạy tới bảo ông Khang gọi bà về ngay, mang theo khăn, gọi cả bà Lý ở xóm Đê. Rồi ra cái kho ngoài bãi, đi lối bờ ruộng, đừng đi qua bến. Bà ra tới nơi thì cửa kho đã đóng. Bên trong có ngọn đèn dầu. Con Đào nằm trên nền đất, người ướt sũng, đầu quấn một dải vải đỏ, không nói, không mở mắt, thở rất khẽ.
– Ông mày bảo tao: tao lôi nó, nó ngã. – Bà nói. – Nó đập đầu vào cọc, rơi xuống sông. Tao tin. Ba mươi năm tao tin.
Bà Lý đến sau bà một lúc. Bà Lý băng đầu, nghe ngực, bảo phải đưa đi viện ngay. Ông Khang không cho. Ông bảo đưa viện thì cả tỉnh biết con gái ông chửa hoang, biết ông đẩy con xuống sông. Ông bảo nếu nó chết thì để nó chết ở đây, trên đất nhà nó. Ông bắt bà Lý thề. Ông bắt bà Tần thề.
– Ba ngày người làng mò sông, – bà nói, và lần này bà quay sang nhìn ông Thạc. – Mày ngồi ôm chiếc dép ở bậc bến. Tao đứng trong rặng chuối nhìn mày. Cách mày có trăm bước.
Ông Thạc đặt một tay lên khung cửa. Tôi thấy những đốt ngón tay ông trắng bệch.
Tới ngày thứ tư thì con Đào mở mắt. Một tháng sau mới nói được tiếng đầu tiên. Nó không nhớ đêm ấy. Nó nhớ thuyền, nhớ anh Thạc, nhớ chị Mận, nhớ mọi thứ tới cái tháng Bảy năm ấy rồi thôi. Thỉnh thoảng nó lên cơn, người co giật, cắn vào lưỡi. Bà Lý chỉ cho bà cách đặt nó nằm nghiêng. Thằng Lộc lên Hà Nội học, mỗi lần về lại mang thuốc. Cái lọ không nhãn trong túi vải là thuốc ấy, thuốc chống co giật, ngày một viên. Cuối năm ấy, ông Khang lên xã khai tử.
– Thế mà cái bụng nó vẫn lớn, – bà nói. – Giời không lấy của nó cái ấy.
Ngày mười hai tháng Chạp, trời rét căm căm, con Đào trở dạ trong kho từ lúc gà gáy. Bà Lý đỡ. Bà Tần đun nước, giữ đèn. Giữa trưa thì ra một đứa con gái, khóc to, tóc đen nhánh. Chiều hôm ấy, đẻ xong, con Đào tỉnh hơn mọi ngày. Nó đòi tờ lịch của ngày hôm ấy, tự tay xé ra, tự tay cầm bút, viết tên con, viết thêm một dòng. Ý nó là rằm tháng Bảy năm sau, chị Mận phải đưa con về cho nó xem.
– Tao không đốt được chữ nó, – bà nói. – Tao cất vào hộp của nó.
Mười một ngày, con Đào cho con bú. Mười một ngày bà Tần đi đi về về giữa nhà cũ và kho, ban đêm ngủ lại bên phản. Rồi hai mươi ba tháng Chạp, mẹ tôi ở Hà Nội về ăn Tết.
– Tao bế mày về cho con Mận. – Bà nói, không nhìn tôi. – Kèm con ngựa con Đào làm cho mày. Tao bảo nó là con Đào được người bên kia sông vớt, nằm liệt mấy tháng ở nhà người ta, sinh con xong thì mất. Người ta chôn rồi, tao đã ra thắp hương rồi, mộ nó coi như là cái mộ gió ngoài đồng. Con Mận tin. Nó khóc ba ngày. Rồi nó bế mày, không cho ai bế nữa.
– Sao bà không nói thật với mẹ con?
– Vì tao thề. Vì nói thật thì con Mận đưa con Đào đi viện. Đi viện thì công an hỏi. Công an hỏi thì anh tao đi tù. – Bà dừng lại. – Tao chọn anh tao. Mày cứ ghét tao.
Ông Khang không muốn giữ đứa bé. Ông bảo đứa bé ở làng thì sớm muộn người ta đếm ngày mà ra chuyện. Ông tìm được một nhà hiếm muộn dưới Nam Định, định cho làm con nuôi cho sạch. Mẹ tôi không chịu. Hai bố con cãi nhau nửa năm. Rồi rạng sáng mười ba tháng Bảy năm Đinh Sửu, trên bậu cửa sổ buồng mẹ tôi có một con ngựa nhắm mắt.
– Con Đào đặt, – bà nói. – Tao biết. Đêm ấy nó trốn khỏi kho, tao đi tìm, gặp nó trên dốc đê đi về, chân lấm bùn. Nó muốn chị nó với con nó ở lại. Con Mận thì tưởng là điềm. Đêm sau nó bế mày đi. Ông mày đứng giữa sân bảo đi thì đừng về.
Ông Thạc vẫn đứng ở cửa buồng. Bà Tần quay hẳn sang nhìn ông.
– Mày nghe chưa, Thạc. – Bà nói. – Con bé ấy không đi theo mẹ nó. Con bé ấy đứng cạnh mày đây.
Ông Thạc không quay sang tôi. Ông nhìn bà Tần, như chờ bà nói đó là một câu nói nhầm. Bà không nói thêm. Rồi ông quay sang. Ông nhìn mặt tôi, rất lâu, và tôi biết ông đang nhìn chỗ nào, vì đêm ở lều tôi cũng đã nhìn chỗ ấy trên mặt ông. Hai hàng lông mày rậm, gần chạm nhau ở giữa. Ông đưa tay lên, như định chạm vào trán tôi, rồi dừng lại giữa chừng, hạ xuống.
– Cô… – ông nói. Rồi ông không nói được gì nữa.
Tôi cũng không. Tôi đứng đó, hai tay buông thõng, và lần đầu tiên tôi thấy mình không biết xưng hô với một người như thế nào.
Bà Tần nằm im một lúc, thở. Rồi bà nói tiếp, như sợ dừng lâu thì không dám nói nữa.
– Còn con ngựa. – Bà nói. – Làng bảo ngựa trắng nhắm mắt đến cửa nhà ai thì nhà ấy đi một người. Làng nói sai. Nhà họ Nghiêm có câu từ đời bà cụ Cẩn: ngựa ngủ thì không ai phải đi. Ai sắp đi xa mà mình không muốn cho đi, thì làm cho người ta một con ngựa nhắm mắt, đặt trước cửa. Là xin người ta ở lại.
Bà nhìn ông Thạc.
– Đêm mùng chín tháng Bảy năm sáu mươi sáu, tao thức cả đêm làm một con, gần sáng đặt trước cửa nhà họ Phí. Tao xin anh Hoè tối mùng mười đừng chèo thuyền lễ. Lũ to quá. – Giọng bà không đổi. – Sáng ra anh ấy bước qua nó, cười tao, xoa đầu tao. Tối ấy anh ấy vẫn chèo. Sáng hôm sau người ta vớt được anh ấy ở bãi bên kia. Người làng thấy con ngựa trước cửa nhà họ Phí, thế là thành điềm. Sáu mươi năm tao không nói. Tao nói ra thì người ta bảo tao gọi anh ấy đi.
Tôi nhìn bà. Một cô gái hai mươi hai tuổi đặt một con ngựa ngủ trước cửa nhà người mình thương, rồi nghe cả làng gọi con ngựa ấy là ngựa đòi mạng.
– Con Đào biết, – bà nói. – Tao dạy nó. Nên nó vẽ mắt nhắm. Không phải vì bố nó cấm điểm mắt đâu. Nó không muốn ai đi cả.
– Còn ông con? – tôi hỏi. – Hôm đầu ông bảo con đừng mở mắt nó.
Bà Tần cười, một cái cười méo đi.
– Ông mày sợ. Mở mắt con ngựa ra là cho con Đào đi. Đi là chết, hoặc đi là lộ. Ông mày sợ cả hai. Mà ông mày cũng muốn cả hai. Người già thì thế.
Ngoài sân, nắng đã lên. Một con gà mái lại cục tác vì đẻ được quả trứng, như mọi buổi sáng ở cái nhà này. Ông Thạc ngồi xuống cái ghế đẩu, cuối cùng ông cũng ngồi, hai bàn tay ôm lấy mặt. Tôi quỳ xuống cạnh giường bà Tần, đắp lại tấm chăn đã tuột xuống bụng bà. Bà nắm lấy cổ tay tôi.
Có một chỗ trong câu chuyện của bà tôi chưa đặt được vào đâu. Tôi đã nghe nó từ đầu, và nó cứ nằm lệch ra như một cái nan chưa buộc.
– Bà ơi, đêm ấy bà ra tới kho, ai ở đó trước bà?
– Ông mày. Với thằng Lộc. – Bà nhíu mày, như đang nhìn lại một cảnh đã xem đi xem lại quá nhiều lần mà giờ mới thấy một chỗ lạ. – Ông mày đứng ở cửa, quần ướt tới đầu gối. Thằng Lộc ngồi trong góc kho, cái áo trắng đội rước ướt từ đầu tới chân, tóc còn nhỏ nước, run cầm cập. – Bà thở ra. – Bà cứ nghĩ nó nhảy xuống vớt chị.
— Hết chương 20 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe