Chương 27: Người làng nói
Sáng thứ Hai, dì Đào xé tờ lịch trong buồng mẹ tôi.
Tôi đã treo quyển lịch bloc của dì lên cái đinh trên vách, ngay cạnh tấm lịch tờ in hình hoa sen. Hai quyển lịch cạnh nhau, một quyển của nhà này, một quyển của cái kho. Năm giờ sáng, khi tôi còn nằm trên chiếc chiếu trải dưới nền gạch cạnh giường, tôi nghe tiếng xoẹt nhỏ, gọn. Tôi mở mắt. Dì đứng trước vách, gấp đôi, gấp tư tờ lịch hai mươi ba, đặt vào cái hộp các-tông. Con số trên tờ mới là hai mươi tư.
Dì không nhìn tấm lịch hoa sen. Dì chỉ tin quyển của dì.
Rồi dì ra sân, đứng trước con ngựa lớn.
Con ngựa đã gần xong. Chiều qua, trong lúc người của tỉnh ngồi với bà Tần, tôi đã dựng xong cái cổ và cái đầu, dán xong lớp giấy lót. Giờ nó đứng giữa sân gạch đỏ, cao hơn tôi một cái đầu, trắng toát từ móng tới tai, chưa có bờm, chưa có mắt. Dưới nắng sớm, lớp giấy trắng phủ ngoài ánh lên như vỏ trứng. Ông từ Nhự dặn: trắng toàn thân, không một sợi chỉ màu, không giấy trang kim. Tôi đã làm đúng như vậy.
Dì Đào đi một vòng quanh con ngựa. Rất chậm. Dì đưa tay vuốt lên bụng nó, lên lưng, lên khớp gối chân sau. Tới chân sau bên trái thì dì dừng lại, ngồi xổm xuống, nhìn. Rồi dì ngẩng lên nhìn tôi.
Tôi đã bớt cái chân ấy đi một li. Tôi không nghĩ dì để ý. Dì để ý.
Dì không nói gì. Dì đứng dậy, đi vào buồng, lấy cái kéo cũ trong túi vải, lấy một tờ giấy trắng to, ngồi xuống bậc thềm, gấp tờ giấy làm tư theo chiều dài, rồi cắt. Lưỡi kéo đi lên, đi xuống. Dì mở dải giấy ra, ướm lên cổ con ngựa, lắc đầu, cắt lại một dải khác, to hơn, răng cưa thưa hơn. Lần này dì gật đầu. Mười một răng, mỗi răng dài bằng một đốt ngón tay, cho một con ngựa cao một thước tám.
Hai dì cháu dán bờm. Dì cầm chổi quét hồ, tôi giữ dải giấy. Bà Tần nằm trên giường xếp ngoài hiên, không chỉ bảo câu nào. Bà chỉ nhìn.
Khi cái bờm đã dán xong, dì Đào đứng lùi lại, ngắm. Rồi dì đi tới cái bàn ngoài hiên, nơi tôi để bát mực tàu và cây bút lông mua ở chợ phiên hôm trước. Dì cầm cây bút lên, chấm mực, đi về phía đầu con ngựa.
Tôi đặt tay lên cổ tay dì. Rất nhẹ, như dì đã làm với tôi trong kho.
– Để rằm, dì. – Tôi nói. – Mắt thì để tới rằm.
Dì nhìn tôi. Cây bút lông trong tay dì nhỏ một giọt mực xuống nền gạch. Dì nhìn con ngựa chưa có mắt, rồi nhìn giọt mực. Rồi dì đặt cây bút xuống bàn, chậm rãi, và không cầm lên nữa.
Tới tám giờ thì người làng bắt đầu đến.
Không ai vào. Người ta đứng ngoài bờ tường thấp quanh sân, đứng trên con ngõ dốc, có người leo lên mặt đê đứng nhìn xuống. Hôm nay phiên chợ mười ba, người đi chợ về rẽ qua nhà cũ như rẽ qua một cái miếu. Có bà mang biếu một rổ trứng gà, đặt trên bậc cổng rồi đi. Có ông đứng ở đầu hồi, hút hết một điếu thuốc lào, nhìn dì Đào ngồi dán giấy, rồi lắc đầu bỏ đi, không nói gì. Có mấy người đàn bà ghé tai nhau, chỉ trỏ, có người chắp tay vái về phía con ngựa trắng.
– Ba mươi năm ở với cái kho…
– Ông Khang ác thế.
– Nghe nói thằng Thạc ngày nào cũng ra ngồi.
– Cái con ngựa ấy là ngựa cho Cô đấy. Năm Bính Ngọ. Rằm này đòi người, các bà xem…
Mấy đứa trẻ con trèo lên bờ tường, thò đầu vào. Một đứa gọi "Ma cô Đào!" rồi tụt xuống. Một người mẹ phát vào mông nó một cái rõ to. Dì Đào ngẩng lên. Dì nhìn đứa bé đang mếu máo trên bờ tường. Rồi dì nhặt một con ngựa giấy nhỏ dì làm tối qua, đứng dậy, đi tới bờ tường, chìa nó lên. Đứa bé nhìn con ngựa, nhìn mẹ. Người mẹ đứng sững. Đứa bé thò tay xuống, cầm lấy con ngựa, rồi tụt khỏi bờ tường chạy mất. Người mẹ đứng thêm một lúc, rồi cúi đầu chào dì, chào rất thấp, và đi.
Gần trưa, ông Thạc đến, tay ôm cái hộp sắt han gỉ trên giá lều ông.
Từ hôm bà Tần gọi ông vào, đây là lần đầu ông tự bước qua cổng mà không chờ ai gọi. Ông đặt cái hộp sắt lên bậc thềm, mở nắp. Chiếc dép đỏ bên phải nằm trên lớp giấy báo vàng, cái quai hậu khâu chỉ đen vụng về.
Tôi vào buồng, mở ba lô, lấy cái túi nhựa ra. Chiếc dép bên trái.
Chúng tôi đặt hai chiếc dép cạnh nhau trên bậc thềm. Ba mươi năm, một chiếc nằm trong hộp sắt của một người đàn ông trong lều sàn, một chiếc nằm trong kho của một người đàn bà giữa rặng chuối, cách nhau nửa cây số. Đặt cạnh nhau rồi, chúng không còn giống nhau nữa. Chiếc bên phải bạc màu đều, giấy báo giữ nó khô. Chiếc bên trái đế mòn vẹt, lấm bùn, như đã đi rất nhiều đêm.
Dì Đào ngồi xuống bậc thềm. Dì cầm chiếc bên phải lên, lật lại, nhìn đường chỉ đen. Dì đưa ngón tay lần theo từng mũi khâu, như lần theo nút lạt hai vòng của tôi trong kho.
– Anh khâu xấu, – dì nói.
Ông Thạc đứng đó. Tôi thấy cổ họng ông lên xuống, lên xuống.
– Ừ, – ông nói. – Anh khâu xấu.
Dì mang đôi dép vào buồng. Tôi đứng ở cửa nhìn dì đặt chúng xuống dưới gầm giường, phía ngoài, chỗ người nằm ngoài sẽ thò chân xuống, mũi dép quay ra, ngay ngắn, như người ta đặt đôi dép trước khi đi ngủ.
Trưa ấy ông Thạc ở lại ăn cơm. Lần đầu tiên ông ngồi vào mâm nhà họ Nghiêm. Bà Tần gắp cho ông miếng cá, ông cầm bát đưa ra đón bằng hai tay, như đứa cháu đón thức ăn của bà. Dì Đào ăn được nửa bát. Tôi nhìn bát cơm vơi đi mà mừng như người ta mừng một tờ giấy vừa được cứu khỏi nước.
Ăn xong, ông Thạc ra bể nước rửa bát. Tôi ra theo. Ông không cho tôi rửa, tôi đứng cạnh ông, cầm cái rổ.
– Trong ấy người ta gọi cô là gì? – ông hỏi, mắt nhìn cái bát trong tay.
– Dạ, gọi Lam thôi chú.
– Mẹ cô… bác Mận có kể gì về tôi không?
– Không chú. Mẹ con chỉ nói ba con mất trước khi con có trí nhớ.
Ông gật đầu, rửa tiếp. Nước bể mát lạnh chảy qua bàn tay có ngón cụt.
– Cái ngón này, năm chín chín, – ông nói. – Kéo vó lúc nửa đêm, say, dây cuốn. Năm ấy tôi uống nhiều. – Ông úp cái bát lên rổ. – Nếu tôi biết có cô thì có khi tôi không uống.
Tôi không biết trả lời thế nào. Ông cũng không chờ tôi trả lời. Ông lau tay vào vạt áo lính, đứng dậy, nhìn tôi, nhìn hai hàng lông mày của tôi, rồi nói, vụng về như người lần đầu buộc một cái nút lạ:
– Con… cô có muốn chiều nay ra lều tôi không. Có cá.
Ông nói "con" rồi sửa thành "cô". Tôi nghe thấy cả hai.
– Dạ, – tôi nói. – Con ra.
Chiều, Tú chạy sang, mặt đỏ bừng, cầm điện thoại giơ lên.
– Chị ơi, em đỗ rồi. Xét tuyển. Đại học trên Hà Nội. – Nó đưa màn hình cho tôi xem, tay run. – Em chưa nói với ai. Em nói với chị đầu tiên.
Tôi ôm thằng bé. Nó cao hơn tôi một cái đầu, tôi phải kiễng chân. Nó cười, rồi tự nhiên nó khóc, rồi lại cười.
– Người ta gọi em lên công an xã mai làm chứng thêm. – Nó nói, lau mặt. – Em đi. Mẹ em bảo em đi.
Bốn giờ, ông từ Nhự đến xem con ngựa.
Ông mang theo một cái thước dây của thợ may, đo từ móng tới đỉnh tai: một thước tám mươi mốt phân. Ông gật gù. Ông đi một vòng, xem kỹ từng khớp, từng lớp giấy, cúi xuống xem cả dưới bụng, tìm một sợi chỉ màu. Không có. Ông đứng lùi lại, nhìn cái bờm mười một răng, rồi nhìn sang dì Đào đang ngồi trên bậc thềm, và ông tháo kính xuống lau. Lần này ông lau rất lâu.
Tôi rót cho ông chén nước chè, mời ông ngồi xuống hiên. Ông ngồi. Tôi ngồi xuống cạnh ông.
– Ông ơi, đêm rằm năm chín sáu, ông ngoại con làm lễ ở miếu tới mấy giờ?
– Tới lúc thuyền về. – Ông đáp ngay. – Ông Khang đứng ở đầu bậc bến, ngay sau lưng tôi, suốt. Đốt ngựa cho Cô xong thì đứng khấn, rồi đứng nhìn thuyền thả đèn. Trưởng họ không được rời lễ khi thuyền còn ở giữa sông, lệ thế. Thằng Thạc lên thuyền nan đi rồi, một lúc sau ông ấy mới đi. Gần mười giờ.
– Ông chắc không ông?
Ông Nhự nhìn tôi qua cặp kính vừa đeo lại.
– Cả làng đứng đấy, cháu ạ. Trưởng họ bỏ lễ giữa chừng thì ba mươi năm sau người ta vẫn còn kể. – Ông nhấp chén nước chè. – Giữa chừng có ông em họ chạy ra ghé tai ông ấy. Ông ấy quay sang dặn một đứa đội rước đứng gần, đứa ấy đi. Còn ông ấy thì vẫn đứng đấy với tôi. Đông người, tối, áo đứa nào cũng như đứa nào, tôi không để ý đứa nào đi.
Tôi cầm chén nước chè, không uống.
Ông ngoại kể với tôi đêm hôm trước khi ông ngã lần thứ hai: thằng em họ chạy ra báo, ông tự đạp xe xuống bến Cát, ông lôi dì, dì giằng, dì trượt chân. Ông giết nó. Ông kể như một bản văn học thuộc ba mươi năm.
Nhưng ông không rời miếu. Ông sai một đứa đội rước đi. Và bà Lý ngồi chữa xích xe trên đê đã thấy ông đạp xe xuống bãi sau thằng bé áo trắng nửa tiếng.
Ông ngoại không có mặt ở bến Cát khi dì ngã. Ông đã học thuộc một câu chuyện không phải của mình.
Ông từ Nhự về lúc chạng vạng. Tôi ra lều ông Thạc, ăn cá nướng, uống nước chè, ngồi nghe ông kể chuyện con sông. Chín giờ tôi về. Dì Đào đã nằm, mắt mở, nhìn lên đỉnh màn. Tôi nằm xuống chiếu, nhìn lên xà nhà.
Đội rước năm chín sáu. Ba chục đứa áo trắng dải đỏ. Một đứa được sai đi. Một đứa cõng dì vào kho, ướt sũng. Một người giấy áo trắng dải đỏ nằm ngủ trong bụng mỗi con ngựa dì làm, từ năm ấy tới giờ, và ông ngoại quay mặt vào tường khi nhìn thấy nó.
Người giấy tôi xin của dì cắt vội, mặt để trắng, chỉ có một chấm mực nhoè ở chỗ cái miệng. Tôi không đọc được gì trên đó. Nhưng dì đâu phải lúc nào cũng làm vội.
Tôi ngồi dậy trong bóng tối.
Có một con ngựa của dì tôi chưa từng mở. Một con ngựa Tú lấy ở gần cửa kho, hồ còn ướt, rồi gửi vào Sài Gòn cho tôi. Tôi đã mang nó theo từ ngày đầu, trong cái hộp nhựa đựng đồ nghề, trong ba lô, suốt hai mươi lăm ngày. Tôi chưa bao giờ mở, vì cô Diệp dạy cái gì không cần mở thì đừng mở.
Hôm ở Sài Gòn, đặt nó lên lòng bàn tay dưới đèn bàn, tôi đã thấy nó nặng không đều. Phía bụng nặng hơn, lệch về bên trái một chút, như có ai giấu trong bụng nó một hòn sỏi nhỏ.
— Hết chương 27 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe