AI Truyện
Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

🕯️ Truyện ma kinh dị

Người cưỡi

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã · Chương 22/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 22: Người cưỡi

Tôi không đi báo công an.

Cả ngày thứ Ba tôi ngồi với câu nói ấy của cậu Lộc như ngồi với một hòn than trong lòng bàn tay. Ông ngoại tám mươi sáu tuổi đi tù. Bà Tần đi tù. Dì vào trại. Anh ta nói không to, không doạ, như người đọc một bản dự toán. Và cái làm tôi sợ không phải là anh ta. Cái làm tôi sợ là tôi không biết anh ta nói đúng hay sai.

Ông Thạc thì biết. Tối thứ Ba, ngồi trên bậc cửa kho, ông chỉ nói một chữ: "Báo." Rồi ông nhìn vào trong, nơi dì Đào đang ngồi vuốt bờm một con ngựa, và ông không nói thêm chữ thứ hai. Tôi hiểu. Báo thì người ta đến. Người ta đến thì cái kho này không còn là của dì nữa.

Mợ Thoa không nói gì với ai. Tú kể mợ đi về từ bãi, vào thẳng phòng, đóng cửa tới tối. Cậu Lộc lên viện. Cả cái nhà ba tầng ốp đá im như nhà không người.

Chiều thứ Ba, tôi về nhà cũ làm tiếp con ngựa lớn cho lễ rằm. Cái khung cao gần bằng người đứng giữa sân, sống lưng đã buộc xong từ tuần trước, bốn chân mới dựng được hai. Bà Tần không dậy được, bắt tôi kê cái giường xếp ra hiên cho bà nằm nhìn. Bà chỉ bằng cái quạt nan: nan kia lệch, buộc lại; khớp ấy bốn vòng, không phải hai; con ngựa cho Cô phải đứng được giữa gió sông, không được xiêu. Tú sang, ngồi xổm phụ tôi giữ nan. Thằng bé không hỏi gì về chuyện buổi sáng. Nó chỉ giữ nan rất chặt, chặt tới mức các đốt ngón tay trắng bệch.

Sáng thứ Tư, mùng tám, phiên chợ. Tú ra chợ mua hộ tôi hai thếp giấy bản và một cân bột sắn. Tôi xách cặp lồng ra kho từ sáu giờ. Mưa ngâu đã tạnh, trời trắng đục như nước vo gạo, bãi bốc hơi nồng mùi bùn và mùi ngô dập.

Dì Đào đã dậy. Dì ngồi xếp bằng trên nền đất cạnh cái bàn nhỏ, trước mặt là một cái khung ngựa đang buộc dở. Dì làm lại con ngựa đã trôi mất. Tôi biết vì con ngựa ấy, trong đêm giông, tôi đã kịp nhìn thấy cái bờm của nó, và cái khung trước mặt dì bây giờ cũng đúng cỡ ấy.

Tôi đặt cặp lồng lên bàn, ngồi xuống đối diện dì. Dì ngẩng lên nhìn tôi một cái, không gọi gì, rồi cúi xuống làm tiếp. Rồi dì làm một việc dì chưa từng làm từ hôm tôi đến: dì đẩy một bó lạt về phía tôi.

Tôi cầm lấy một sợi. Dì chỉ vào khớp gối chân trước bên phải, chỗ còn chưa buộc.

Tôi buộc. Hai vòng, rút chặt, đầu lạt luồn ngược vào dưới, ấn móng tay cái xuống. Như bà Tần dạy, kiểu của dì: đầu lạt thò ra thì ngựa bị xước chân. Dì nhìn cái nút tôi vừa thắt, rất lâu. Rồi dì đưa ngón tay gầy ra, sờ lên nút lạt, lần theo hai vòng, tới chỗ đầu lạt giấu vào trong. Dì không nói gì. Nhưng dì kéo cái khung ngựa xích lại gần tôi hơn, nửa về phía tôi, nửa về phía dì.

Từ đó tới trưa, hai dì cháu làm chung một con ngựa.

Dì không dạy bằng lời. Dì dạy bằng tay. Khi tôi định cắt cái nan làm chân sau bên trái bằng ba cái nan kia, dì nắm lấy cổ tay tôi, rất nhẹ, kéo con dao lui lại một chút, chỉ chừng một li, rồi buông ra. Khi tôi quét hồ lên giấy, dì cầm cái chổi lông khỏi tay tôi, quét hồ lên nan, đưa trả lại. Khi tôi vuốt giấy bằng đầu ngón tay, dì úp cả bàn tay tôi xuống, vuốt bằng lòng bàn tay. Chị Nụ đã dạy tôi đúng những điều ấy ở xưởng, nhưng chị nói. Dì không nói. Dì chỉ chạm vào tay tôi, đặt nó vào đúng chỗ, như người ta đặt lại một mảnh giấy bị lệch trên khuôn.

Tới cái bờm thì dì làm một mình. Dì cầm cái kéo cũ, gấp một dải giấy trắng làm tư, cắt. Lưỡi kéo đi lên, đi xuống, đều như tiếng đồng hồ quả lắc, không cần nhìn. Dì mở dải giấy ra. Mười một răng cưa, nhọn đều nhau như cắt bằng khuôn. Tôi đếm hai lần. Mười một.

Ở bảo tàng, tôi đã nhìn tay của nhiều người thợ. Thợ đóng sách, thợ khắc gỗ, thợ bồi tranh. Có những bàn tay giỏi vì học, có những bàn tay giỏi vì làm nhiều. Tay dì Đào khác. Đầu dì đã mất gần hết, mất tên người, mất ngày tháng, mất cả cái ngón tay cụt của người dì thương. Nhưng tay dì thì không mất gì. Như thể tất cả những gì còn lại của dì đã lặn xuống, trốn vào mười đầu ngón tay ấy.

Gần trưa, con ngựa đã đủ khung, đủ lớp giấy lót, đủ lớp giấy trắng phủ ngoài, chỉ còn chừa một ô trống ở dưới bụng, to bằng hai đốt ngón tay. Tôi tưởng dì quên. Tôi cầm một mảnh giấy trắng định dán vào. Dì giữ tay tôi lại.

Dì đứng dậy, đi tới góc phòng, lấy trên cái giá gỗ xuống một cái hộp sắt nhỏ, loại hộp đựng kẹo bạc hà bán ở chợ quê ngày xưa, nắp đã tróc sơn. Dì ngồi xuống, mở nắp.

Trong hộp là những người giấy.

Mỗi người chỉ bằng một đốt ngón tay. Cắt bằng kéo từ giấy bản trắng, gấp đôi cho có độ dày, hai tay hai chân dang ra như hình người trẻ con vẽ. Đầu tô mực đen làm tóc. Thân mặc áo trắng, chính là màu giấy, không tô gì. Và chéo qua ngực mỗi người, từ vai trái xuống hông phải, là một dải giấy điều nhỏ xíu, mảnh như sợi chỉ, dán bằng hồ.

Áo trắng, dải đỏ chéo ngực.

Tôi ngồi yên.

Dì lấy trong cái bát sành trên bàn ra một viên sỏi nhỏ bằng đầu ngón tay, nhẵn, màu nâu như đất bãi, loại sỏi sông lũ vẫn đánh dạt lên bậc bến. Dì chấm hồ, dán viên sỏi vào mấy cái nan bụng, phía bên trái. Rồi dì nhặt một người giấy lên, đặt nằm ngửa trên viên sỏi, chấm một tí hồ vào lưng cho dính, như đặt một người nằm lên giường. Rồi dì cầm mảnh giấy trắng trong tay tôi, phết hồ, dán kín ô trống lại, vuốt bằng lòng bàn tay. Cái bụng con ngựa phẳng phiu, trắng toát, không ai biết bên trong có gì.

– Ai vậy dì? – tôi hỏi. Giọng tôi khàn. – Người này là ai?

Dì Đào nhìn con ngựa vừa dán bụng, rồi nhìn tôi. Dì đặt tay lên lưng con ngựa, vuốt nhẹ, như vuốt lưng một đứa trẻ.

– Ngủ đi, – dì nói. – Ngựa ngủ. Người ngủ.

Rồi dì cầm cây bút lông, chấm vào cái bát mực tàu, vẽ lên mặt con ngựa hai nét cong úp xuống, có mi. Con ngựa nhắm mắt.

Dì đặt nó lên một chỗ trống trên tường, giữa hàng trăm con khác, và quay lại ăn cơm.

Tôi ngồi nhìn cái hộp kẹo bạc hà còn mở nắp. Trong đó còn bảy người giấy, nằm xếp lớp, như những người ngủ trong một căn nhà chật. Tôi xin dì một người. Tôi không biết xin bằng cách nào, nên tôi chỉ chìa lòng bàn tay ra, nhìn dì, nhìn cái hộp. Dì gắp một miếng cá, nhai, rồi nhặt một người giấy, đặt vào lòng bàn tay tôi, như đặt một hạt thóc.

Tôi đeo kính lúp lên.

Người giấy cắt vội. Mép kéo không đều, một chân dài hơn chân kia. Tóc là một vệt mực quệt ngang. Mặt để trắng, không mắt, không mũi. Chỉ có ở phần dưới khuôn mặt, chỗ người ta vẽ cái miệng, có một chấm mực nhỏ, nhoè ra vì thấm vào giấy bản, chẳng rõ là miệng hay là gì. Dải giấy điều chéo ngực thì cẩn thận hơn mọi thứ khác, mảnh, thẳng, dán đúng từ vai xuống hông.

Áo trắng, dải đỏ chéo ngực. Tôi đã thấy bộ áo ấy rồi, trong tấm ảnh lồng khung gỗ treo ở góc dưới bức tường nhà cậu Lộc: một cậu trai mười tám tuổi đứng trước con thuyền kết hoa. Đội rước năm chín sáu. Năm ấy, đêm rằm, trai làng đội rước mặc áo trắng dải đỏ. Bốn người chèo thuyền lễ ra giữa sông thả đèn cũng là trai đội rước.

Ông Thạc là một trong bốn người chèo.

Cậu Lộc cũng mặc bộ áo ấy, đêm ấy. Nhưng cậu là người nhảy xuống nước lũ vớt dì lên, cõng dì vào kho. Tôi nghĩ: người ta không đặt người đã cứu mình nằm ngủ trong bụng ngựa, chừng ấy năm.

Tôi tháo kính lúp ra. Tôi nhìn dì Đào đang ăn cơm, từng miếng nhỏ, chậm rãi, như con chim sẻ mổ thóc. Tôi nghĩ tới những điều bà Tần kể sáng Chủ nhật. Ngựa ngủ thì không ai phải đi. Con ngựa nhắm mắt là lời xin người thương ở lại. Vậy thì người nằm ngủ trong bụng mỗi con ngựa của dì là người dì không muốn cho đi. Người dì chờ ở bến Cát mỗi đêm, hỏi "thuyền đâu". Áo trắng, dải đỏ, đêm rằm năm ấy.

Tôi nghĩ: dì giữ chú Thạc trong bụng ngựa, ba mươi năm.

Và tôi đã muốn dừng ở đó. Tôi đã muốn đó là tất cả. Một người đàn bà mất trí giữ người mình thương trong hàng trăm con ngựa ngủ. Câu chuyện ấy đẹp. Nó buồn mà đẹp, như bài ru của mẹ.

Nhưng tôi là thợ phục chế. Người ta dạy tôi không được dừng ở chỗ mình muốn dừng. Một vết ố trên giấy có thể là nước mắt, cũng có thể là nước mưa dột. Người thợ phải xem cho hết.

Nên tôi xem cho hết, trong đầu, như lật từng tờ một của một tập hồ sơ không ai muốn mở. Đêm ấy chú Thạc mặc áo trắng dải đỏ. Chú hẹn dì ở bến Cát. Chú kể chú tới lúc gần mười giờ, muộn nửa tiếng, không thấy ai. Không ai đứng ở bến Cát lúc chín giờ rưỡi để nói chú tới lúc nào. Chỉ có lời của chú. Và người ta không giữ trong bụng ngựa, ba mươi năm, một người mình chỉ thương thôi. Người ta giữ cả người mình sợ.

Tôi ghét cái ý nghĩ ấy ngay khi nó vừa thành hình. Tôi ghét nó như ghét một vết dao rọc giấy trượt tay. Ông Thạc đã kéo tôi lên khỏi bùn. Ông đã khóc trên cái rổ lược. Ông đã ngồi trên bậc bến, giữa dì và nước sông. Hai hàng lông mày rậm gần chạm nhau ở giữa trên mặt tôi là của ông.

Nhưng bà Tần cũng tin anh mình ba mươi năm. Cả nhà này ai cũng đã tin một người nào đó ba mươi năm.

Tôi nắm người giấy trong lòng bàn tay, không chặt, sợ làm nhàu. Ngoài kia, nắng đã xuyên qua lớp mây trắng đục, rọi xuống khoảng sân đất nện trước cửa thành một vệt sáng chói. Có một cái bóng đổ dài trên vệt sáng ấy, từ ngưỡng cửa vào trong kho.

Tôi ngẩng lên.

Ông Thạc đứng ở cửa. Tôi không biết ông đứng đó từ lúc nào. Ông không vào. Ông đứng ngược sáng, vai vác bó cần câu, tay xách một xâu cá nhỏ còn giãy. Tôi không nhìn rõ mặt ông. Tôi chỉ thấy ông không nhìn tôi, không nhìn dì Đào. Ông nhìn xuống lòng bàn tay tôi, nơi người giấy áo trắng dải đỏ đang nằm ngửa, hai tay dang ra như người đang ngủ.

Và xâu cá trong tay ông thôi giãy, hay ông đã thôi cầm nó cho chặt, tôi không biết. Nó tuột khỏi tay ông, rơi xuống bậc cửa.

— Hết chương 22 —

Mục lục Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã

  1. 1Con ngựa thứ hai11 phút
  2. 2Làng phơi ngựa11 phút đọc
  3. 3Ngựa bị bịt mắt10 phút đọc
  4. 4Miếu Cô10 phút đọc
  5. 5Ngôi mộ có tên mẹ10 phút đọc
  6. 6Lá thư của mẹ10 phút đọc
  7. 7Tờ khai tử10 phút đọc
  8. 8Bộ rập trên gác xép10 phút đọc
  9. 9Ngày tôi ra đời10 phút đọc
  10. 10Lệ năm Bính Ngọ10 phút đọc
  11. 11Người đỡ đẻ xóm Đê10 phút đọc
  12. 12Bùn bến Cát10 phút đọc
  13. 13Chiếc dép đỏ10 phút đọc
  14. 14Mùng Một tháng Bảy10 phút đọc
  15. 15Những con ngựa trước cửa nhà cậu9 phút đọc
  16. 16Bài ru trong kho10 phút đọc
  17. 17Chìa khoá của bà10 phút đọc
  18. 18Người đàn bà ở bến Cát10 phút đọc
  19. 19Hộp sắt của dì12 phút đọc
  20. 20Lời bà Tần11 phút đọc
  21. 21Mưa ngâu11 phút đọc
  22. 22Người cưỡi10 phút đọc
  23. 23Lời bà Lý10 phút đọc
  24. 24Đoàn kiểm đếm dời ngày10 phút đọc
  25. 25Chiếc xe trên đê10 phút đọc
  26. 26Người chết trên giấy10 phút đọc
  27. 27Người làng nói10 phút đọc
  28. 28Chấm mực ở cằm11 phút đọc
  29. 29Đêm rằm10 phút đọc
  30. 30Kho cháy10 phút đọc
  31. 31Trước miếu Cô10 phút đọc
  32. 32Điểm mắt10 phút đọc
  33. 33Ông ngoại10 phút đọc
  34. 34Kết quả giám định10 phút đọc
  35. 35Tro của mẹ10 phút đọc
  36. 36Bến Cát12 phút đọc

Về truyện này

Ngựa giấy nhắm mắt ở làng Phù Mã là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →