Chương 31: Trước miếu Cô
– Con mở rồi, – tôi nói.
Tôi tháo cái ba lô sém quai khỏi vai, mở khoá, lấy cái hộp nhựa ra. Nắp hộp đã cong vì nóng, nhưng không vỡ. Tôi mở nắp. Người giấy vẫn nằm trên lớp giấy lụa, áo trắng, dải đỏ, hai mắt nhắm, cái móc câu nhỏ dưới cằm. Ánh lửa từ đống tro đang sụp hắt lên nó một màu cam ấm, như ánh đèn dầu.
Cậu Lộc nhìn nó rất lâu. Anh ta không cầm. Hai bàn tay anh ta vẫn ép chặt vào ngực.
– Chị vẽ cả cái sẹo, – anh ta nói. Rồi anh ta cười, một tiếng cười gãy làm đôi, nửa sau thành ho. – Ba mươi năm, chị quên cả tên cậu, mà chị không quên cái sẹo.
Rồi anh ta kể. Không ai hỏi, anh ta kể. Mắt nhìn đống lửa, giọng khàn đặc, đều đều, như người đọc lại một bản khai đã viết trong đầu không biết bao nhiêu lần, chỉ chờ có người nghe.
Chín giờ hai mươi đêm rằm năm Bính Tý, ông chú họ chạy ra miếu, ghé tai bố anh ta. Bố quay sang anh ta, đang đứng trong hàng đội rước ngay sau lưng bố. Bố không nói to. Bố chỉ nói: mày lấy xe đạp, xuống bến Cát, lôi nó về. Lôi về bằng được.
– Cậu đạp xe dọc bãi. Trăng sáng như ban ngày. Chị đứng ở bậc thứ ba, nhìn ra sông, chờ thuyền. – Anh ta nói. – Cậu gọi chị về. Chị không về. Chị bảo: Sẹo, buông chị ra, thuyền anh Thạc sắp tới. Cậu bảo: chị về đi, bố giết em mất. Cậu nắm cổ tay chị. Chị giằng. Cậu giằng lại.
Anh ta dừng. Một mẩu giấy cháy bay từ đống tro qua đầu chúng tôi, lấp lánh, rồi tắt.
– Cậu mười tám tuổi. Cậu khoẻ hơn chị. Cậu cứ nghĩ lôi được chị lên mấy bậc là xong. – Anh ta nói. – Chị trượt chân. Đầu chị đập vào cái cọc tre. Rồi chị không còn ở trên bậc nữa.
Anh ta nhảy xuống. Nước lũ cuốn anh ta đi mấy sải, anh ta túm được tóc chị, túm được vạt áo. Không biết bằng cách nào anh ta lôi được chị vào bờ. Chị không thở. Anh ta úp chị xuống đầu gối mình, ấn vào lưng, như người ta vẫn làm với trẻ con chết đuối ở làng, ấn mãi cho tới khi chị ho ra nước. Rồi anh ta cõng chị vào kho, đặt chị xuống đất, tháo cái dải vải đỏ đội rước trên ngực mình quấn vào đầu chị, rồi đạp xe như điên về miếu.
– Bố đến. Bố nhìn chị. Bố nhìn cậu. – Anh ta nói. – Rồi bố bảo: từ giờ, đêm nay là tao. Mày đi tìm chị mày, mày nhảy xuống vớt chị mày lên. Mày chỉ có thế. Còn lại là tao.
Đêm ấy, cả đêm, anh ta ngồi trong góc kho, ướt sũng, run cầm cập, nghe tiếng một người đàn ông gọi tên chị mình ngoài bến Cát. Gọi tới sáng. Anh ta không ra.
Cách chúng tôi mấy bước, ông Thạc ngẩng lên. Ông đã nghe hết. Ông không đứng dậy, không nói một lời. Ông chỉ cúi xuống, áp má mình vào mái tóc bạc bết khói của dì Đào trên đùi ông, và giữ nguyên như thế, như người ta che một ngọn đèn trước gió.
Tháng Chín bố gửi anh ta lên Hà Nội. Bố bảo học đi, đừng về. Anh ta về Tết, về hè, ở nhà ba hôm rồi lại đi. Mỗi lần về anh ta mang thuốc cho chị, đưa cho cụ Tần, không bao giờ ra kho. Năm hai nghìn lẻ tư anh ta về hẳn, mở xưởng. Anh ta nhìn thấy cái kho mỗi ngày từ trên mặt đê. Anh ta không bao giờ xuống.
– Năm hai nghìn mười sáu, rằm tháng Bảy, cậu thấy một con ngựa nhắm mắt ở lư hương miếu Cô, trước khi lễ bắt đầu. Cậu biết là của chị. Cậu không biết tại sao cậu mở nó ra. – Anh ta nhìn người giấy trong hộp nhựa. – Trong bụng nó có cậu. Áo đội rước. Cái sẹo. Đang ngủ.
Từ đấy, con ngựa nhắm mắt nào anh ta thấy, anh ta đốt. Ở bậc thềm nhà anh ta. Ở cửa miếu. Ở dưới gốc gạo. Anh ta không biết chị đặt chúng ở đó để làm gì, đòi anh ta hay xin anh ta. Anh ta không dám biết.
– Con ngựa của mẹ con, – tôi nói.
– Bữa cơm hôm ấy cậu ra xem xe hàng. Cậu sang nhà cũ. Cụ Tần đi bãi, cháu ngồi bên nhà cậu. Cậu biết cháu cất nó ở đâu, vì mợ cháu đã kể cái hộp bánh. – Anh ta nhắm mắt. – Cậu không biết trong bụng nó có gì. Chị làm nó tháng Chạp năm ấy, đầu chị còn tỉnh hơn bây giờ. Cậu sợ chị vẽ rõ hơn. Cậu đốt nó ở lư miếu Cô, trước khi trời sáng. Cậu cũng không biết vì sao lại đốt ở đấy. Có lẽ cậu nghĩ đốt ở đấy thì Cô nhận, thì xong.
Anh ta mở mắt.
– Năm giờ cậu ra tới kho. Cậu xé niêm phong, đặt can dầu vào trong, rồi ra ngồi ở bậc bến Cát. Cậu ngồi đấy tới khi trống miếu thúc hồi cuối, không làm được. Lúc quay vào trời đã nhá nhem. Cậu tưới dầu quanh mấy bức tường gần cửa. Cậu không nhìn ra sau tấm màn.
– Cậu không định giết ai, Lam ạ. Năm ấy không. Tối nay cũng không. Cậu chỉ muốn tất cả chỗ ngựa ấy biến mất trước khi người ta mở. Cậu tưởng chị ở nhà.
Ánh đèn pin đã xuống tới mép rặng chuối. Chị Ngân chạy trước, sau lưng là cậu công an viên trẻ, là mấy thanh niên trong làng xách xô, cầm gàu, là Tú, là mợ Thoa áo dài tím, chân đất. Họ dừng lại trước đống lửa đang sụp. Không ai dội nước. Không còn gì để dội.
Chị Ngân nhìn dì Đào trên đùi ông Thạc, nhìn tôi, nhìn cậu Lộc. Nhìn cái can nhựa xanh nằm nghiêng giữa sân đất cháy đen. Chị gọi điện cho trạm y tế, cho xe cấp cứu, rồi chị bước tới trước mặt cậu Lộc.
– Anh Lộc. Anh đi viện với em.
Cậu Lộc ngẩng lên nhìn chị.
– Cô cho tôi mười phút. – Anh ta nói. – Ra miếu Cô. Rồi cô đưa tôi đi đâu cũng được.
Chị Ngân nhìn anh ta rất lâu. Rồi chị gật đầu.
– Em đi với anh.
Dì Đào không chịu lên xe cấp cứu. Chị Hạnh chạy xuống tới nơi, nghe phổi cho dì ngay trên bờ bãi, bảo dì hít phải khói nhưng không nặng, phải theo dõi cả đêm. Dì gạt tay chị Hạnh ra. Dì đứng dậy, chiếc dép đỏ bên phải còn trên chân, chân kia trần, ôm con ngựa sém tai, nhìn về phía thượng nguồn, về phía những đốm đèn hoa sen trôi trên mặt nước, về phía tiếng trống.
– Rằm, – dì nói. – Ngựa.
Chị Ngân gọi lại cho xe cấp cứu, bảo xe chạy dọc mặt đê lên đỗ ở đầu dốc bến Vó, mười phút ở miếu xong thì đi thẳng viện. Chị Hạnh đi sát bên dì, tay ôm cái túi y tế.
Ông Thạc ngồi xổm xuống trước mặt dì, quay lưng lại. Dì nhìn cái lưng áo lính ướt sông một lúc. Rồi dì vòng hai tay qua cổ ông, và ông cõng dì đứng dậy.
Từ bến Cát lên bến Vó là một cây rưỡi mặt đê. Đêm rằm, trăng sáng như ban ngày. Chúng tôi đi thành một đoàn lặng lẽ trên mặt đê. Cậu Lộc đi đầu, hai bàn tay quấn trong cái khăn ướt của chị Hạnh, chị Ngân đi sát bên cạnh, rồi ông Thạc cõng dì Đào, rồi tôi, rồi mợ Thoa, rồi Tú. Người làng đứng hai bên mặt đê, những người đã bỏ lễ chạy về phía ánh lửa, giờ dạt ra cho đoàn chúng tôi đi qua. Không ai nói gì. Trăng rọi bóng cả đoàn xuống sườn đê phía bãi, dài và nghiêng, nối đuôi nhau, như bóng một đám rước đi ngược về một năm nào đó.
Sân miếu Cô sáng rực đèn và nến. Người đứng kín sân, kín bậc bến, kín cả con dốc. Lễ đã dừng từ lúc người ta thấy ánh lửa phía bãi. Ông từ Nhự đứng trước cửa miếu, áo the đen, cầm cái micro không dây, mặt trắng bệch. Giữa sân, trước cửa miếu, con ngựa trắng của tôi đứng chờ, cao hơn đầu người, bờm mười một răng lay lay trong gió sông, chưa có mắt.
Người làng rẽ ra một lối. Cậu Lộc đi vào giữa sân, đứng trước con ngựa trắng, quay mặt về phía mọi người.
Có tiếng xì xào, rồi im. Ông từ Nhự bước tới, không nói gì, đưa cái micro cho anh ta. Anh ta không cầm được. Ông từ Nhự hiểu, giơ cái micro lên trước miệng anh ta.
– Tôi là Nghiêm Văn Lộc.
Giọng anh ta qua loa vang khắp sân miếu, vang xuống mặt sông, rè đi ở cuối chữ.
– Đêm rằm năm Bính Tý, chị tôi, Nghiêm Thị Đào, không chết đuối. Tôi đuổi theo chị ra bến Cát. Tôi giằng tay chị. Chị trượt chân, đập đầu vào cọc tre, rơi xuống sông. Tôi vớt chị lên. Bố tôi giấu chị trong cái kho ngoài bãi, nhận tội thay tôi ba mươi năm. Cụ Tần nuôi chị ba mươi năm. Tôi biết hết. Tôi im.
Anh ta dừng lại. Cả sân miếu không có một tiếng động, chỉ có tiếng gió lùa qua tán gạo và tiếng nước sông chảy dưới chân bậc bến.
– Tối nay tôi đốt cái kho ấy. Tôi không biết chị ở trong đó. – Anh ta nói. – Năm Bính Tý không có lời nguyền nào cả. Năm nay cũng không. Chỉ có tôi.
Ông từ Nhự hạ cái micro xuống. Tay ông run. Ông tháo cặp kính lão ra, cầm trong tay, không lau.
Cậu Lộc quay sang chị Ngân.
– Cô đưa tôi đi.
Chị Ngân đặt tay lên khuỷu tay anh ta, như người ta đỡ một người bệnh, và dẫn anh ta đi qua lối người làng vừa rẽ ra. Mợ Thoa đi theo sau, không khóc. Tú đứng lại một bước, nhìn tôi. Rồi nó cũng đi theo bố nó, đi bên cạnh, vai sát vai. Tôi nghe tiếng xe cấp cứu đỗ trên mặt đê, tiếng cửa xe mở, tiếng cửa xe đóng.
Sân miếu vẫn im.
Ông từ Nhự đeo kính lại. Ông nhìn con ngựa trắng chưa có mắt. Ông nhìn lên trăng. Trăng đã lên cao, đã thôi màu cam, đã trắng lại, tròn, lặng.
– Lễ vẫn phải xong, – ông nói, giọng không qua micro, chỉ đủ cho những người đứng gần nghe. – Cô vẫn chờ. Trưởng họ Nghiêm không có mặt. Ông Khang đã giao cho cháu Lam điểm mắt thay.
Ông quay về phía tôi. Ông đưa cho tôi cây bút lông và cái bát mực tàu đặt trên mâm lễ trước cửa miếu.
Tôi cầm lấy. Cây bút lông nhẹ tênh trong tay. Tôi đi tới trước con ngựa trắng tôi đã làm suốt hai tuần, từng cái nan, từng nút lạt hai vòng, từng lớp giấy. Tôi ngẩng lên nhìn cái đầu ngựa, cao hơn đầu tôi, hai chỗ trống trên mặt nó, nơi chưa có ai vẽ mắt.
Một bàn tay gầy, lạnh, đặt lên cổ tay tôi.
Dì Đào đã tuột xuống khỏi lưng ông Thạc. Dì đứng cạnh tôi, chân trần một bên, tóc bạc bết khói, áo cánh trắng lấm muội đen. Dì nhìn con ngựa. Dì nhìn cây bút trong tay tôi. Rồi dì gỡ từng ngón tay tôi ra, nhẹ, như gỡ một sợi lạt, và cầm lấy cây bút lông.
— Hết chương 31 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe