Chương 25: Ngày không đỏ lửa
Cô Sửu bóc cái nem thử cuối cùng lúc năm giờ kém mười sáng thứ Hai.
Nong số hai mươi mốt, dãy giữa. Cô cởi cái nút con cá, bóc lá chuối, lá ổi, bẻ đôi. Cô ngửi. Cô cắn một miếng, nhai thật lâu, như con Mịn vẫn nhai, như bà cụ vẫn nhai. Chua tới. Bì giòn. Cuối miệng chát nhẹ.
– Được. – Cô nói, không với ai.
Cô lấy viên phấn gạch một vạch lên mép nong. Rồi cô đứng đó, cầm nửa cái nem trong tay, rất lâu.
Con Mịn gọi cho cô lúc mười hai giờ đêm, từ trên một chiếc xe chạy dọc sông Mã. Giọng nó bình thường, chậm, như mọi lần gọi báo nong nào để thêm ngày. Nó bảo cô ơi, bà đi rồi, mười một giờ hai mươi, ở nhà sàn mế con, bà đi nhẹ lắm. Nó bảo bốn giờ sáng xe về tới phố. Nó bảo bà dặn tắt lửa ba ngày.
Cô Sửu nghe xong thì ngồi dậy, mặc áo, đi ra xưởng. Chồng cô hỏi đi đâu giờ này. Cô bảo bà cụ mất rồi. Ông ấy không hỏi thêm, chỉ dậy đun cho cô ấm nước gừng.
Ba mươi sáu năm. Cô vào xưởng năm chín mươi, hai mươi ba tuổi, chồng mới cưới, chưa biết gói một cái nem. Bà cụ khi ấy năm mươi mốt, tóc còn đen, gánh hai thúng nem đi như chạy. Bà dạy cô gói, dạy buộc lạt, dạy rửa lá. Bà không bao giờ dạy cô rang thính, không bao giờ cho cô nếm nem thử. Cô cũng không xin. Cô biết phận mình. Năm chín sáu lụt, bà cụ tháo cái nhẫn cưới ra khỏi ngón tay, đưa cô cầm ra tiệm vàng, bảo bán đi lấy tiền thưởng Tết cho thợ. Cô cầm cái nhẫn mà khóc suốt dọc đường.
Bây giờ cô cầm nửa cái nem.
Cô ăn nốt nửa cái nem. Rồi cô đi làm cái việc mà ba mươi sáu năm cô chưa làm lần nào.
Gian bếp rang lạnh. Mẻ thính cuối cùng con Mịn rang hôm thứ Sáu còn nằm trong cái chum sành có nắp, đủ dùng cho tuần sau. Cô đậy kỹ cái nắp chum, lấy dây buộc lại. Cô khóa van ga tổng. Cô lấy cái khăn ẩm lau cái chảo gang to như cái nong con, lau từ trong ra ngoài, lau cho tới khi nó bóng lên dưới ánh đèn. Rồi cô úp một tấm lá chuối lên mặt chảo, như người ta úp cái nón lên mặt người nằm ngủ.
Cô đi sang gian giữa, rút phích máy xay, máy giã. Cô lấy tấm vải bạt phủ lên cái bàn gói dài.
Sáu giờ, công nhân bắt đầu đến. Ai bước qua cổng cũng thấy tờ giấy cô dán: "Nhà có tang. Xưởng nghỉ từ hôm nay đến hết thứ Năm." Không ai hỏi gì. Bà Hòe đứng ở cổng, đọc xong thì quay lưng, đi ra mép đê, ngồi xuống bãi cỏ ướt sương, lấy tay ôm mặt. Con Ngọ đứng cạnh bà.
Anh Toản tới lúc sáu rưỡi. Anh nghe cô Sửu nói xong thì đứng im một lúc, rồi hỏi:
– Cô ơi, ba cái buồng máy đang giữ lạnh hàng thành phẩm. Em tắt luôn hay để chạy?
– Để chạy. Đấy là giữ hàng, không phải lửa. – Cô Sửu nói. – Buồng tre thì để nguyên. Nem đã gói thì cứ để nó chín. Chín tới nong nào thì cô ra bóc nong ấy, giao cho đại lý. Không làm cái nào mới.
– Còn camera, cô? Em có cần tắt không?
Cô Sửu nhìn cái chấm đỏ nhỏ trên góc trần, cái chấm đã quay con Mịn với cái Trinh khiêng thịt hồi tháng Mười Hai.
– Để đấy. – Cô nói. – Cho nó nhìn. Nó nhìn thì người ta biết xưởng ni nghỉ thật.
Đám tang làm ở phố Tân Hạc.
Rạp dựng trước cửa hàng từ trưa thứ Hai, che kín cả vỉa hè. Cái cửa hàng ba mươi lăm năm chưa nghỉ quá một ngày, nay kéo cửa cuốn xuống, dán một tờ giấy trắng. Chị bán xôi đầu ngõ không bán xôi, sang nấu nước. Bà Bích hàng giò mang sang hai chục cân giò, không lấy tiền, đứng nép ở góc rạp suốt buổi chiều, không dám nhìn bà Huệ.
Thằng Chiến từ Hà Nội về lúc tám giờ sáng. Cô Sửu phải nói một câu cho công bằng: thằng ấy lo việc giỏi. Nó gọi điện thuê rạp, thuê nhạc, đặt quan, đặt hoa, xếp lịch khách viếng, chia người trực, cứ như tổ chức một cái hội nghị. Đến chiều thứ Hai, mọi thứ đã đâu vào đấy. Chỉ có điều nó đi đâu cũng cầm cái điện thoại.
Thứ Ba, khách viếng đông nghịt. Người ở chợ, người ở phố, đại lý các nơi, công nhân cũ đã nghỉ từ chục năm trước. Cô Sửu đứng ở cửa rạp với mấy chị tổ gói, chít khăn tang, đón khách, đưa hương.
Gần trưa, một ông già người nhỏ, áo măng tô xám, mũ phớt, chống gậy, bước xuống từ một chiếc taxi biển Hà Nội. Ông đứng ở cửa rạp, nhìn quanh một lúc, như tìm ai.
– Bác ơi, bác là...? – Cô Sửu hỏi.
– Tôi là Kiểm. – Ông nói. Cái giọng khàn khàn, chậm rãi, từng chữ rơi ra như hạt cà phê. – Đại lý ở Hà Nội. Ba mươi tư năm lấy nem của cụ.
Ông vào thắp hương. Ông đứng trước di ảnh bà cụ rất lâu, môi mấp máy. Lúc quay ra, ông hỏi cô Sửu:
– Cô ơi, nhà mình có cô nào tên Mịn không?
Cô Sửu chỉ vào trong. Con Mịn đang quỳ ở cạnh linh cữu, chít khăn trắng, đốt vàng. Ông Kiểm chống gậy đi vào. Cô Sửu thấy ông dừng lại trước mặt nó.
– Cháu là Mịn?
Con Mịn ngẩng lên. Cô Sửu thấy nó nhận ra cái giọng trước khi nhận ra cái mặt.
– Dạ. Bác Kiểm.
Ông Kiểm đứng nhìn nó một lúc. Rồi ông cúi xuống, đặt bàn tay già nua lên vai nó, vỗ hai cái.
– Ba năm nghe giọng. – Ông nói. – Giờ mới thấy mặt. Bác cứ tưởng cháu già hơn.
Chiều thứ Ba, người ở Khe Lau xuống.
Cậu Khoang, mế Ván, ông Mòn, bà Thìn, và mấy người nữa, đi một chuyến xe khách. Họ mang theo một vòng hoa không giống vòng hoa nào trong rạp. Không có hoa cúc, không có hoa ly. Chỉ có lá ổi tím kết lại thành vòng, mép lá ửng tím, xen giữa là những bông hoa ổi trắng nhỏ, nhị vàng, còn tươi.
Người đi viếng xì xào. Có người hỏi vòng hoa gì lạ thế. Có người ngửi thấy mùi.
Bà Huệ đứng cạnh linh cữu, nhìn cái vòng hoa ấy được đặt xuống ngay dưới di ảnh mẹ chồng. Cô Sửu thấy bà đưa tay lên, chạm vào một chiếc lá ổi, như chạm vào một vật gì quý. Rồi bà quay sang cúi đầu chào cậu Khoang, chào mế Ván, chào từng người một.
Bà Hoan về từ Vinh lúc chiều tối thứ Hai. Cô Sửu chỉ gặp bà mấy lần, những dịp giỗ chạp, nhớ bà là người đàn bà gầy, nói ít, nhìn ai cũng như nhìn học trò. Bà đã khóc một trận ở cạnh linh cữu mẹ, rồi thôi, không khóc trước mặt ai nữa. Hai đêm liền bà ngồi với ông Thự trong phòng khách tầng hai. Hai anh em, một người không nói được, một người không muốn nói.
Đêm thứ Tư, cô Sửu ở lại phụ dọn dẹp. Mười giờ, cô xách túi rác ra ngõ sau.
Thằng Chiến đứng ở đấy, trong bóng tối, cạnh mấy cái xe máy dựng sát tường. Nó đang nói điện thoại, giọng rất nhỏ. Cô Sửu đi chân không trên nền xi măng ướt, nó không nghe thấy.
– ...thì cứ làm đủ cho anh. Xưởng anh nghỉ mấy hôm. Tem anh gửi từ tuần trước rồi. Ngày tháng thì như mọi khi...
Cô Sửu đứng im sau cái cột điện. Thằng Chiến cúp máy, đứng thêm một lúc, rồi đi vào nhà bằng cửa sau.
Cô không hiểu hết câu ấy. Cô chỉ nhớ nó, như cô nhớ mọi thứ nghe được ở cái xưởng ấy trong ba mươi sáu năm: nhớ trước, hiểu sau.
Cùng đêm ấy, lúc cả nhà ngồi quanh mâm cơm khuya trong rạp, thằng Chiến hắng giọng.
– Cô Hoan ơi. Cháu xin phép nói chuyện này luôn, kẻo mai cô về Vinh. Phần vốn góp của bà ở công ty, hai mươi phần trăm...
Bà Hoan đặt đũa xuống.
– Chưa đưa u ra đồng mà cháu đã tính phần à.
Cả mâm cơm im bặt. Thằng Chiến đỏ mặt.
– Cháu chỉ nói về thủ tục, cô ạ. Bà không có di chúc thì theo luật phần của bà chia đều cho bố cháu với cô...
– Cô biết luật. – Bà Hoan nói. – Cô dạy giáo dục công dân ba mươi năm. Cô chưa về Vinh đâu. Cháu cứ để u nằm yên đã.
Sáng thứ Năm, hai mươi sáu tháng Ba, đưa tang.
Trời âm u, mưa phùn lất phất. Xe tang đi chậm qua phố Tân Hạc, đoàn người đi theo sau dài gần hết phố. Người hai bên đường đứng lại, cúi đầu. Ở đầu chợ, mấy bà hàng cá, hàng rau đứng dậy, chắp tay.
Theo ý bà Huệ, đoàn xe không đi thẳng ra nghĩa trang. Xe rẽ lên đê, đi về phía bắc, về làng Vạn Lộc.
Cô Sửu ngồi trên chiếc xe khách thứ hai, nhìn qua cửa kính. Cô thấy con đường đê bà cụ đi bộ mỗi sáng hồi còn trẻ, con đường xe ôm chở bà ra xưởng lúc ba giờ rưỡi sáng cái đêm ông Thự đổ bệnh. Cô thấy cái gốc gạo đầu làng. Rồi cô thấy cổng xưởng.
Cổng sắt xanh mở toang hai cánh. Trước cổng, bốn chục công nhân đứng thành hai hàng, ai cũng chít khăn tang trắng. Bà Hòe đứng đầu hàng bên trái, thằng Tài đứng cuối hàng bên phải. Bác Tư bảo vệ đứng giữa cổng, cầm một nén hương.
Xe tang dừng lại.
Cô Sửu nhìn qua đầu những người đứng trước cổng, vào trong sân. Ba gian nhà xưởng tối om. Cửa gian bếp rang đóng. Cái ống khói tôn trên mái gian bếp rang, cái ống khói năm mươi năm nay sáng nào cũng bốc khói thính lên trời, không có một sợi khói nào. Cái sân gạch ướt mưa, vắng tanh.
Người làng Vạn Lộc đứng hai bên đường đê, đông hơn cô tưởng. Người đi chợ sớm dừng xe đạp lại. Mấy đứa trẻ đi học đứng nép vào mép đê, cởi mũ. Một ông già ở đầu làng nói to, đủ cho cả khúc đê nghe:
– Năm mươi năm, lần đầu tiên tôi thấy cái ống khói ấy nguội.
Xe tang đứng đó mười phút. Không ai nói thêm gì. Rồi bác Tư cắm nén hương lên cái cột cổng, cúi đầu, và xe tang lăn bánh.
Tối hôm ấy, khi rạp đã dỡ, khách đã về, cô Sửu còn ở lại rửa nốt chỗ bát đĩa trong bếp tầng hai. Qua cánh cửa bếp để mở, cô thấy bà Hoan đi tới chỗ con Mịn đang ngồi gấp khăn tang ở phòng khách.
Bà Hoan cầm trên tay một cái gói nhỏ, bọc giấy báo cũ, buộc bằng một sợi lạt đỏ. Cái nút buộc có hai vòng bắt chéo, đuôi xòe ra như đuôi cá.
– Hôm mười chín u gọi điện cho cô. – Bà Hoan nói. – U dặn: tau mà có làm răng, chị vào cái hộp trầu của tau, lấy cái gói ni đưa cho con Mịn. Cô lấy rồi. Nó nằm dưới lọ thuốc của u.
Con Mịn đỡ lấy cái gói bằng hai tay. Nó cởi cái nút lạt đỏ chậm rãi, như cởi cái nem thử. Nó mở lớp giấy báo.
Bên trong là một tấm ảnh đen trắng, to bằng bàn tay, mép đã ố vàng, góc gãy. Cô Sửu đứng ở cửa bếp, nhìn qua vai con Mịn.
Hai người đàn bà đứng cạnh một cái gánh nem ở góc chợ. Một người mặc áo cánh nâu, khăn vấn, tóc còn đen, cười. Người kia nhỏ hơn, mặc váy Mường, đội khăn, đeo cái gùi trên lưng, cũng cười, một tay đặt lên vai người kia. Sau lưng họ là những sạp hàng treo đầy câu đối đỏ.
Con Mịn lật tấm ảnh lại. Ở mặt sau có mấy chữ viết bằng mực tím, nét chữ nghiêng, đã nhòe:
"Liễu – Ẻn. Chợ Tết năm 1980."
— Hết chương 25 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe