Chương 24: Chuyến xe lên Khe Lau
– Chỗ ni. – Bà Liễu nói. – Dừng lại chỗ ni một chút.
Thạo tấp xe vào lề. Bên phải là sông Mã, nước tháng Ba đã đục lại vì mấy trận mưa đầu mùa trên thượng nguồn. Bên trái là một quả đồi thấp, chân đồi có cái quán nước mái lá đã bỏ hoang, cột tre nghiêng.
Bà Liễu không xuống xe. Bà chỉ nhìn qua cửa kính, về phía cái quán.
– Ngày xưa ở đây có cái quán bán nước chè, bán khoai luộc. – Bà nói. – Người dưới xuôi lên, người trên ngược xuống, ai cũng nghỉ chân ở đây. Bà ấy kể với tau, năm bảy chín bà ấy đi bộ từ bản xuống chợ, ba ngày, đêm thứ nhất ngủ ở cái quán ni.
Mịn ngồi cạnh bà ở ghế sau. Cô không hỏi "bà ấy" là ai. Cả xe không ai hỏi.
Bà Huệ ngồi ghế trước, cạnh Thạo. Từ lúc xe rời phố Tân Hạc lúc sáu giờ sáng, bà ngoái lại nhìn mẹ chồng không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần bà Liễu ho, bà lại đưa chai nước ra sau. Mỗi lần xe vào cua, bà lại bảo Thạo đi chậm thôi con.
Chiến không đi. Anh bảo có hẹn với Bách Lộc ở Hà Nội sáng thứ Hai, phải đi từ Chủ nhật. Ngọc không đi. Ông Thự ở nhà với Trinh và cái Bông. Lúc bà Liễu được Thạo bế xuống cầu thang, ông ngồi trên xe lăn ở đầu cầu thang tầng hai, nước mắt chảy ra hai bên má. Bà Liễu bảo Thạo dừng lại. Bà với bàn tay trái, đặt lên đầu con trai, xoa xoa mái tóc bạc như xoa đầu một đứa trẻ.
– Tau đi rồi tau về. – Bà nói.
Ông Thự nắm lấy cổ tay mẹ, rất lâu, rồi mới buông.
Xe đi tiếp. Bà Liễu tựa đầu vào vai Mịn, ngủ một lúc. Người bà nhẹ như một bó lá khô.
Ba giờ chiều thứ Bảy, xe tới bản Mỏ Nạn. Mế Ván và cậu Khoang đã đứng chờ ở đầu bản từ trưa. Thạo với cậu Khoang khiêng bà Liễu lên cầu thang nhà sàn bằng cái ghế tre. Mế Ván đã trải sẵn ở gian giữa một cái đệm bông mới, một cái chăn thổ cẩm mế dệt, kê sẵn cái bếp than nhỏ cho ấm.
Bà Liễu nằm xuống, nhìn lên mái nhà. Những cây cột gỗ đã đen bóng vì khói bếp. Những gùi, những giỏ treo trên xà.
– Nhà mạ mi đây à? – Bà hỏi mế Ván.
– Dạ. – Mế Ván nói. – Nhà mế con dựng. Mế con ở đây tới ngày đi.
Bà Liễu không nói gì nữa. Bà nhắm mắt, nhưng Mịn thấy hai khóe mắt bà ướt.
Đêm ấy bà ngủ được. Mịn nằm cạnh bà trên sàn gỗ, nghe tiếng khe chảy, tiếng lợn dưới gầm sàn. Bà Huệ nằm phía bên kia. Ba người đàn bà nằm thành một hàng, như ba cái nong trên giá.
Sáng Chủ nhật trời hửng. Cậu Khoang gọi bốn thanh niên trong bản, buộc một cái võng vào cây đòn tre. Bà Liễu ngồi trong võng, đắp chăn thổ cẩm, bốn người khiêng lên đồi.
Đồi ổi tím tháng Ba khác hẳn tháng Mười Hai. Lá non ra đầy cành, mép lá ửng tím như ai lấy bút tô. Và hoa. Những bông hoa ổi trắng nhỏ, nhị vàng, nở lấm tấm khắp đồi, rụng xuống nền đất đỏ như rắc gạo. Không khí thơm một mùi ngai ngái, ngọt, chát.
Bà Liễu ngồi trong võng, ngửi. Bà hít một hơi rất dài.
– Đúng mùi. – Bà nói. – Đúng cái mùi lá bà ấy mang xuống năm bảy chín.
Mộ bà Ẻn ở lưng chừng đồi. Cậu Khoang đã phát cỏ từ hôm trước, đắp lại đất. Mấy thanh niên đặt cái võng xuống cạnh mộ, kê cho bà Liễu ngồi tựa vào một gốc ổi. Mế Ván cắm hương. Bà Huệ đứng sau lưng mẹ chồng. Thạo đứng xa một chút. Mịn quỳ cạnh bà Liễu.
Bà Liễu nhìn tấm bia xi măng. Hà Thị Ẻn. Một chín bốn sáu, hai nghìn không trăm mười sáu.
– Mười năm rồi. – Bà nói. – Mười năm bà ấy nằm đây. Tau biết được bốn năm, mà tau không dám lên.
Không ai nói gì. Gió thổi qua đồi, hoa ổi rụng xuống vai áo bà.
Rồi bà Liễu kể.
Bà kể chậm, nhiều chỗ phải dừng lại thở, có chỗ ho. Mịn ngồi sát bên, thỉnh thoảng đưa nước. Không ai ngắt lời bà.
– Mùa đông năm bảy chín. Rét như năm ni. Tau ngồi chợ bán nem. Ông nhà tau mất được hai năm, tau một mình, thằng Thự mười tám, con Hoan mười lăm. Có một người đàn bà Mường đeo cái gùi, ngồi ở góc chợ ba ngày, bán lá ổi, bán măng khô. Ba ngày bán nỏ được mấy. Đêm thứ ba tau dọn hàng về, chộ bà ấy nằm co dưới mái hiên nhà người ta, run cầm cập.
Bà dừng lại, nhìn tấm bia.
– Tau đưa về nhà. Định cho ngủ một đêm. Bà ấy ở hai năm.
Mế Ván ngồi xuống đất, cạnh mộ mẹ. Mế nghe, mắt không rời bà Liễu.
– Bà ấy làm cùng tau. Giã thịt, rang thính, đi chợ. Một hôm bà ấy chộ tau lót lá ổi vào nem, bà ấy cười. Bà ấy bảo lá ổi dưới xuôi không thơm. Bà ấy lấy trong gùi ra một nắm lá ổi khô của bà ấy, lá tím ở mép. Bà ấy bảo cô thử cái ni. – Bà Liễu nhắm mắt. – Mẻ nem hôm ấy, tau nếm, tau đứng im cả buổi.
– Là lá ổi ở đây ạ? – Thạo hỏi khẽ.
– Lá ổi trên đồi ni. – Bà Liễu nói. – Bà ấy hái từ hồi con gái.
Bà ho một tràng. Mịn đỡ lưng bà. Lúc bà thở lại được, bà nói tiếp.
– Cái nút con cá cũng là của bà ấy. Bà ấy buộc giỏ cá bằng cái nút ấy. Một hôm bà ấy buộc một cái nem riêng ra, để góc nong, bảo cô ạ, nếm một cái thì biết cả nong, đỡ phải bóc cả trăm cái. Tau nhuộm sợi lạt đỏ cho dễ nhìn. Từ đó nhà tau có cái nem thử.
Bà Huệ đứng sau lưng mẹ chồng. Mịn không nhìn thấy mặt bà, chỉ thấy hai bàn tay bà nắm chặt cái khăn quàng.
– Năm tám mươi, nem nhà tau nổi khắp chợ. Người ta xếp hàng mua. Người ta gọi nem bà Liễu. – Bà Liễu dừng lại rất lâu. – Không ai gọi nem bà Ẻn.
– Bà ấy có buồn không ạ? – Mịn hỏi. Câu hỏi đầu tiên của cô từ lúc lên đồi.
Bà Liễu quay sang nhìn cô.
– Bà ấy cười. Bà ấy bảo tên ai cũng được, nem ngon là được. – Bà nói. – Bà ấy hiền như mi. Mi giống bà ấy. Cái lúc mi buộc cái nút ấy ở xưởng năm hai hai, tau tưởng tau chộ ma.
Gió lại thổi. Một chùm hoa ổi rụng xuống mộ.
– Năm tám mốt ông nhà bà ấy ngã cây gãy chân. Bà ấy phải về. Tau ra bến xe tiễn. – Bà Liễu thở dốc. – Tau hứa với bà ấy một câu.
Bà dừng lại. Mọi người chờ. Bà mở miệng ra, rồi lại khép lại.
– Câu ấy tau nỏ giữ được. – Bà nói. – Tau xấu hổ, tau không nói được ra mồm. Con Hoan nó nhớ. Nó mười bảy tuổi, nó đứng cạnh tau ở bến xe.
Bà quay sang bà Huệ.
– Năm tám bảy chị xin tau dạy. Đêm giao thừa tau nói với chị là tau ghen. Đó là một nửa. Nửa kia là cái nghề ni một nửa không phải của tau. Tau không dám đưa cho ai cái nửa của người ta. Tau giữ, tau chờ. Chờ mãi. Tới khi con cháu bà ấy tự đi vào nhà tau.
Bà Huệ quỳ xuống. Lần đầu tiên Mịn thấy mẹ chồng quỳ xuống đất, trên nền đất đỏ, đầu gối lấm. Bà cầm lấy bàn tay trái của bà Liễu.
– U nói xong rồi. – Bà Huệ nói. – U nghỉ đi.
Bà Liễu lắc đầu. Bà ra hiệu cho Mịn. Mịn mở cái túi vải mang theo, lấy ra một cái nem gói lá chuối, buộc lạt đỏ, nút con cá. Cái nem thử cô buộc ở xưởng hôm thứ Năm, mang theo từ dưới xuôi. Bà Liễu cầm cái nem bằng tay trái, run run đặt lên mộ, ngay dưới chân tấm bia.
– Tau mang nem lên cho bà. – Bà nói với ngôi mộ. – Lá của bà. Nút của bà. Tau nợ bà một đời.
Mế Ván đứng dậy. Mế đi xuống đồi, không nói gì, đi rất nhanh. Mười lăm phút sau mế quay lên, thở hổn hển, tay cầm một cái hộp gỗ nhỏ, loại hộp người Mường đựng kim chỉ. Mế mở nắp, chìa cho bà Liễu.
Trong hộp có một sợi lạt đỏ. Đã bạc gần hết màu, chỉ còn ửng hồng ở mấy chỗ gập. Sợi lạt buộc thành cái nút con cá, hai vòng bắt chéo, đuôi xòe ra.
– Mế con giữ cái này tới ngày đi. – Mế Ván nói. – Để trong hộp kim chỉ. Con không biết nó là cái gì. Con không dám vứt.
Bà Liễu nhìn sợi lạt. Bà không cầm. Bà chỉ nhìn. Rồi bà khóc.
Mịn chưa thấy bà nội khóc lần nào. Bà khóc không ra tiếng, chỉ có hai vai rung, và bàn tay phải run mạnh tới mức cái chăn thổ cẩm trượt khỏi đùi. Bà Huệ ôm lấy vai mẹ chồng. Mế Ván ngồi xuống, đặt cái hộp vào lòng bà Liễu.
Một lúc lâu, bà Liễu nói với Mịn.
– Mi buộc cho tau một cái nút. Ở đây.
Mịn lấy trong túi áo một sợi lạt đỏ trong bó lạt bà đưa từ tháng Mười Một. Cô buộc nó vào cành ổi thấp nhất cạnh mộ, ngay trên đầu tấm bia. Hai vòng bắt chéo, thắt lại ở giữa, đuôi xòe ra như đuôi cá.
Chiều hôm ấy bà Liễu ngủ suốt. Tối, bà ăn được nửa bát cháo mế Ván nấu bằng gạo nương, bảo ngon. Bà gọi bà Huệ lại gần.
– Chị dạy con Mịn cái bán. – Bà nói. – Nó nỏ biết bán. Nó nói với khách như nói với cái nong.
Bà Huệ bật cười, cái cười lẫn tiếng nấc. Bà gật đầu.
Rồi bà Liễu gọi Mịn.
– Tau đi thì tắt lửa ba ngày. – Bà nói, rất khẽ. – Rồi mi đỏ lửa lại. Đừng để lâu. Lửa tắt lâu thì buồng nguội, men chết.
– Bà đừng nói thế.
– Mi nhớ lấy.
– Con nhớ, bà ạ.
Bà nhắm mắt. Mế Ván ngồi bên bếp than, khe khẽ hát một câu hát ru Mường, cái câu ngày xưa bà Ẻn hát cho mế nghe. Bà Huệ ngồi một bên, Mịn ngồi một bên. Thạo ngồi ở đầu cầu thang. Bếp than tí tách.
Mịn ngồi nghe tiếng thở của bà. Đều. Chậm. Chậm hơn. Có một quãng rất dài không có tiếng thở nào, rồi lại có một hơi. Cô cầm bàn tay phải của bà. Bàn tay ấy đã thôi run. Lần đầu tiên từ năm hai hai, nó nằm yên trong tay cô.
Cô ngẩng lên nhìn cái đồng hồ treo trên cột nhà sàn của mế. Mười một giờ hai mươi phút.
Rồi cô cúi xuống, áp tai vào ngực bà. Không còn gì nữa.
Bà Huệ nhìn mặt con dâu, hiểu ngay. Bà không khóc to. Bà chỉ đưa tay vuốt mắt mẹ chồng, kéo cái chăn thổ cẩm lên ngực bà, vuốt cho phẳng, như cái lần bà Liễu vuốt chăn cho con trai trong phòng khách.
Cậu Khoang trèo lên cầu thang. Cậu đứng ở cửa, cởi mũ len, cúi đầu một lúc lâu. Rồi cậu nói với Thạo, giọng thấp.
– Người Kinh muốn về nhà mình. Anh muốn đưa bà về đêm nay thì cậu đi gọi xe. Đường đèo, đi đêm, cậu đi cùng.
— Hết chương 24 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe