Chương 5: Chòi máy của chú Út
Cái đề kiểm tra mười lăm phút môn Toán sáng thứ Hai có ba câu, và Dềnh nhìn câu thứ nhất suốt năm phút mà không nhớ đạo hàm của hàm số mũ là gì.
Cậu đã tính lương cho tám thằng thợ, tính dầu cho một chuyến kéo sà lan từ Cát Lái ra Vũng Tàu, tính lãi ngân hàng cho cái xe máy trả góp. Nhưng cái chữ e nằm trên đầu cái số mũ kia thì cậu chịu. Mười sáu năm, nó rơi đâu mất trong đầu như một con ốc vít rơi xuống khoang máy.
Thằng Khang ngồi bên cạnh, đẩy tờ giấy nháp qua, che bằng cánh tay.
– Chép lẹ, – nó rít qua kẽ răng. – Mầy bị gì mấy bữa nay vậy? Thứ Bảy tao hỏi bài tập Lý mầy ngó tao như ngó người lạ.
Dềnh không chép. Cậu ngồi im, nhìn tờ giấy của mình, rồi viết những gì còn nhớ được, sai một nửa. Thầy Phước, chủ nhiệm, đeo kính trắng, đi ngang bàn, cúi xuống nhìn, rồi nhìn cậu, không nói gì. Giờ ra chơi, thầy gọi cậu ra hành lang.
– Dềnh, – thầy nói, giọng không nghiêm như cậu nhớ. – Nhà có chuyện gì hả em?
– Dạ không thầy.
– Học kỳ một em đứng thứ ba lớp. Giờ còn chưa đầy hai tháng là thi tốt nghiệp, rồi thi đại học. – Thầy gõ gõ cây bút vào lan can. – Có gì thì nói thầy. Đừng để chuyện nhà kéo em xuống.
Dềnh nhìn thầy, nhớ ra một chuyện: kiếp trước, thầy Phước là người đi xe đò ra tận Vũng Mây dự đám tang ba, đứng thắp nhang, rồi dúi vào tay má một phong bì. Cậu đã quên mất điều đó. Bây giờ cậu nhớ lại, và không biết vì sao lại nhớ đúng lúc này.
– Dạ. Em cảm ơn thầy.
Thằng Khang đợi cậu ở gốc phượng.
– Ổng nói gì?
– Hỏi nhà có chuyện gì.
– Có hông?
Dềnh nhìn thằng bạn. Khang Còi, con bà bán nước mắm đầu chợ, ốm nhom, đen nhẻm, mặt lúc nào cũng như đang nhịn cười. Kiếp trước nó đậu cao đẳng sư phạm, về dạy cấp hai ở một xã miền núi, cưới vợ, đẻ ba đứa con gái, năm nào cũng đăng ảnh lên trang cá nhân ba đứa nhỏ mặc áo dài. Tụi cậu không nói chuyện với nhau từ năm hai ngàn mười hai.
– Có, – Dềnh nói. – Mà tao chưa biết là chuyện gì.
Khang nhìn cậu một hồi, rồi gật gù.
– Mầy nói chuyện như ông già vậy đó.
Ba không nói chuyện với Dềnh suốt mấy ngày liền.
Sáng nào ba cũng ra bè lúc bốn giờ rưỡi, một mình, cây đèn quấn keo đỏ trong tay. Trưa ba về, ăn cơm, ngủ trưa trên võng ngoài hiên. Chiều ba ra bè lần nữa. Tối ba ngồi một mình ở bến, hút thuốc rê. Ba nói với má, với nội, với con Sò. Với Dềnh thì ba nói qua người khác: "Biểu nó ăn cơm", "Biểu nó đóng cửa".
Má hỏi Dềnh hai cha con có chuyện gì. Dềnh nói con lỡ cãi ba chuyện lồng tôm. Má thở dài, nói thôi kệ, ba mầy giận vài bữa rồi thôi. Rồi má nói nhỏ, nhìn quanh như sợ ai nghe:
– Mà mầy cãi vậy là được. Má cũng không muốn ổng lấy thêm.
Chiều thứ Hai, Dềnh đạp xe về, không vô nhà mà đi thẳng ra chòi sửa máy của chú Út Lành.
Cái chòi dựng sát quán bà Bảy Hến, bốn cây cột tràm, mái tôn, vách là mấy tấm tôn cũ đóng lủng củng. Trong chòi lúc nào cũng tối và nồng mùi xăng nhớt. Trên cái bàn gỗ đầy những con ốc, cái bugi, sợi dây côn, một cái đài cát-xét phát vọng cổ rè rè. Ba bốn cái máy đuôi tôm tháo nắp nằm la liệt dưới đất. Trên vách treo một tấm lịch có hình cô ca sĩ cười, và một cái võng dù.
Chú Lành đang ngồi xổm trước một cái máy, tay đen tới khuỷu. Thấy Dềnh, chú cười, khoe cái răng cửa sứt.
– Ê, thằng cháu học trò. Ghé chơi hả?
– Dạ. Con muốn xin chú cho con phụ.
– Phụ cái gì?
– Sửa máy.
Chú Lành ngẩng lên, nhướng mày, rồi cười khùng khục.
– Anh Hai biết anh Hai đánh chết. Lo học đi mậy.
– Ba cấm con ra bè rồi. – Dềnh ngồi xuống cái ghế đẩu. – Con muốn kiếm chút tiền.
– Kiếm tiền làm gì? Học trò mà.
Dềnh chưa kịp nghĩ ra câu trả lời, thì chú Lành đã đẩy cái máy trước mặt qua phía cậu.
– Nè, cái máy này của ông Tư Ngạn. Tao coi hai bữa nay, nổ được ba phút là tắt. Mầy coi được thì tao chia tiền công.
Đó là một bài kiểm tra, Dềnh hiểu. Cậu quỳ xuống, lau tay vào quần, bắt đầu. Bugi tốt. Xăng sạch. Cậu tháo bộ chế hòa khí, thổi kim xăng, ngó lỗ gió. Không có gì. Cậu cho máy nổ thử một lần, đặt tay lên lốc máy, nghe nó rung, rồi tắt. Ba phút. Cậu không giật lại ngay mà vặn hé nắp bình xăng. Một tiếng xì nhỏ, như ai thở ra. Cậu giật máy, máy nổ liền. Cậu lật cái nắp bình lên coi: cái lỗ thông hơi bằng đầu tăm trên nắp bị bít kín một lớp sơn với cặn muối.
– Nắp xăng nghẹt lỗ thở, chú, – cậu nói. – Xăng chảy xuống được một hồi thì trong bình bị hút chân không, hết chảy, máy tắt.
Chú Lành đã ngừng làm cái máy của mình từ lúc nào, ngồi nhìn cậu, điếu thuốc trên môi cháy tới đầu lọc mà quên rít.
– Mầy học ai vậy?
– Con coi chú làm.
– Tao làm bao giờ mà mầy coi? – Chú gỡ điếu thuốc ra, búng đi. – Thằng này, nói thiệt đi.
Dềnh không nói gì, chỉ cầm sợi kẽm nhỏ, thông cái lỗ trên nắp, cạo sạch lớp sơn. Cậu vặn nắp lại, giật máy. Máy nổ. Ba phút. Năm phút. Mười phút. Máy vẫn nổ, đều, tròn tiếng.
Chú Lành vỗ đùi cái chát.
– Mẹ ơi! Cái thằng! – Chú rút trong túi áo ra một tờ năm chục nghìn nhàu nát, nhét vô tay Dềnh. – Tiền công. Cầm. Mai tới tiếp. Tao có ba cái máy nữa đang chờ.
Rồi chú gãi đầu, lẩm bẩm như nói với chính mình: "Cái lỗ bằng đầu tăm mà tao ngó hai bữa không ra. Mấy bữa nay đầu óc tao để đâu không biết."
Tối đó, Dềnh cầm tờ năm chục nghìn về nhà. Cậu không đưa má. Má sẽ hỏi tiền đâu ra, rồi biết cậu ra chòi chú Lành, rồi ba biết. Cậu lén mở cái ống tre treo trên vách bếp, cái ống má bỏ tiền lẻ bán bánh canh mỗi ngày, ống tre có khoét một cái khe nhỏ, đáy bịt bằng nút lá chuối. Cậu gấp tờ tiền làm tư, nhét vô khe.
Tờ giấy rơi xuống, kêu một tiếng sột rất nhỏ trong lòng ống.
Kiếp trước, đồng lương đầu tiên cậu gửi về cho má là năm hai mươi tuổi, từ Cam Ranh, ba trăm nghìn, gửi qua một người quen đi xe đò. Lúc đó nhà đã không còn. Má cầm tiền, gọi điện cho cậu, nói được rồi con, má mua thuốc cho nội. Mãi về sau cậu mới biết, tháng đó má đã bán đôi bông tai cưới để mua gạo, mà má không nói, vì sợ cậu bỏ việc về.
Cậu đứng trong bếp tối một lúc lâu, tay còn đặt trên cái ống tre.
Từ hôm đó, chiều nào tan học Dềnh cũng ra chòi máy. Chú Lành giao việc, cậu làm, chú ngồi bên cạnh vừa nhìn vừa nói, nói không ngừng. Chú kể chuyện hồi đi bạn ghe ở Vũng Tàu, chuyện con nhỏ bán cà phê ở Gò Nhạn, chuyện đá banh. Chú ưa hát vọng cổ theo cái đài, giọng ồ ồ lạc tông. Chú nói anh Hai mầy là người tốt nhứt đời, hồi nhỏ tao lén đi tắm sông suýt chết, anh Hai mầy lặn xuống vớt tao lên, về bị ông già đánh cả hai anh em.
Dềnh nghe, và nhớ. Kiếp trước, sau đám tang ba bốn mươi chín ngày, chú Lành biến mất khỏi Vũng Mây, để lại cái chòi không khóa và mấy cái máy của người ta chưa sửa xong. Người ta nói chú nợ sòng, bỏ trốn. Má nói chú không dám nhìn mặt ai vì đêm đó đi với ba mà về một mình. Rồi người ta quên chú.
Bây giờ chú ngồi đó, ba mươi bốn tuổi, tóc còn đen, mặt còn tươi, hát sai lời một câu vọng cổ.
– Chú Út, – Dềnh hỏi vào chiều thứ Tư, khi hai chú cháu đang ngồi ăn bánh mì bà Bảy Hến bán. – Chú còn đánh bài hông?
Chú Lành ngừng nhai.
– Ai nói mầy?
– Ông Mười nói ba.
– Ông Mười, – chú lặp lại, giọng tự dưng lạ đi, như nuốt phải cái gì đắng. Rồi chú cười, cười to quá. – Chơi chút chút cho vui mà. Không có gì.
– Chú có nợ ai hông?
Chú Lành nhìn Dềnh, rồi nhìn ra mặt đầm. Một hồi lâu.
– Mầy hỏi gì mà hỏi giống mấy bà già trong xóm vậy. – Chú đứng dậy, phủi vụn bánh mì trên quần. – Làm đi. Cái máy ông Ba Cò còn chưa lắp bugi.
Dềnh không hỏi nữa. Nhưng cậu để ý thấy, từ chiều đó, chú Lành hay nhìn ra đường. Mỗi lần có tiếng xe máy chạy ngang, chú ngẩng lên. Có lần chú đang hát thì ngưng ngang, nhìn ra, đợi chiếc xe chạy qua rồi mới hát tiếp, mà không hát tiếp được đúng câu.
Tối thứ Năm, rằm tháng Ba.
Trăng lên sớm, tròn, vàng như cái mâm đồng, treo trên đầu hòn Một. Mặt đầm sáng bạc, thấy rõ từng cái chòi trên bãi Rạng. Ba đã ra bè. Má với nội đi lễ chùa đầu làng. Con Sò ngồi nhà học bài.
Dềnh ở lại chòi máy với chú Lành tới tám giờ, để làm cho xong cái máy của ông Ba Cò. Chú Lành ngồi trên võng, không hát, cũng không nói. Cái đài tắt. Chú cầm một cái ly nhựa không có gì trong đó, xoay xoay.
– Mầy về đi, – chú nói. – Trễ rồi.
– Con lắp xong cái bugi này nữa.
– Về đi, tao nói.
Giọng chú gắt. Dềnh ngẩng lên. Chú Lành không nhìn cậu, mà nhìn ra đường, nơi có ánh đèn pha của một chiếc xe máy vừa rẽ từ quốc lộ vô.
Chiếc xe chạy chậm, đèn pha quét qua mấy dãy nhà tôn, qua quán bà Bảy Hến đã đóng cửa, rồi dừng lại ngay trước chòi máy. Máy không tắt. Trên xe có hai người. Người cầm lái to con, đội nón kết, mặc áo khoác da dù trời nóng. Người ngồi sau ốm, tóc dài, ngậm tăm.
Người ngồi sau bước xuống. Hắn đứng ở cửa chòi, ánh trăng rọi nghiêng lên nửa mặt, nhìn vô trong, nhìn Dềnh một cái, rồi nhìn chú Lành. Hắn gỡ cây tăm khỏi miệng.
– Ông Út, – hắn nói, giọng nhẹ nhàng như hỏi thăm sức khỏe. – Tới hẹn rồi.
— Hết chương 5 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe