Chương 22: Cá mồi ươn
Ba không trả lời ông Mười. Ba quay đầu nhìn Dềnh.
Dềnh hiểu cái nhìn đó. Không phải ba hỏi ý. Ba đang trả lại cho cậu một thứ ba đã nợ: cái lần nghe con ở nhà dì Út Trâm, và hai lần sau đó. Ba muốn biết lần này thằng con mình nói gì, trước mặt người bạn ba chục năm đang ngồi dưới ghe ngẩng mặt lên xin.
Cậu nhìn xuống ông Mười. Ông ngồi trên mũi ghe, hai tay đặt trên đầu gối, bàn tay to bè, móng vàng khè vì thuốc lá. Ông đang chờ. Không phải chờ ba. Chờ cậu.
Cậu muốn nói không. Ba lồng tôm từ một bè đã chết mười một lồng, nuôi chung một vùng nước, ăn chung một thứ cá mồi, dùng chung đồ nghề với mấy lồng chết. Ba lồng "khỏe" đó có thể đang ủ bệnh như lô tôm bò hồi tháng Bảy. Đem nó ra Gành Đỏ là đem dịch tới cửa nhà mình. Cậu biết vậy, bằng cái nghề hai năm ở Cam Ranh. Nhưng cậu cũng biết: một thằng con nít mười tám tuổi mà đứng trên bè từ chối người lớn đang xin, trước mặt cha nó, thì từ mai cả đầm sẽ kể chuyện đó. Và không ai kể chuyện tôm bệnh.
– Dạ được, chú, – cậu nói. – Mà có mấy điều.
Ông Mười nhướng mày.
– Điều gì?
– Ba lồng của chú, anh Cẩn coi từng con trước khi dời. Con nào bụng hơi đục là bỏ, không tiếc. Neo ở hòn đá ong phía dưới dòng, cách bè nhà con ba trăm thước, chỗ nước chảy ra cửa đầm. Đồ nghề của chú để ở bè chú, không ai qua lại hai bên. Cá mồi chú mua tươi, không lấy cá mồi bãi Rạng. Hai tuần đầu chú cho người canh, ghe chú không cột vô bè nhà con.
Ông Mười nghe từng điều, mặt không đổi. Khi Dềnh nói xong, ông cười. Không phải cái cười sang sảng. Cười một tiếng ngắn qua mũi.
– Tui xin chỗ neo, – ông nói với ba, không nhìn Dềnh, – chớ đâu phải xin đi khám bệnh.
– Thằng nhỏ nói vậy là phải, – ba nói. – Tôm ông chết mười một lồng.
– Tôm tui chết vì bãi Rạng. Tôm tui còn lại khỏe re. – Ông đứng dậy trên mũi ghe, cái ghe chòng chành. – Thôi. Tui hỏi chơi vậy thôi. Ngoài này gió, tui cũng không ưng.
Ông ra hiệu cho thằng Lợi. Ghe nổ máy, quay đầu. Thằng Lợi cầm lái, ngoái lại nhìn Dềnh một cái rất lâu, như muốn nói gì, rồi quay đi.
Ba đứng nhìn theo cái ghe tới khi nó chỉ còn là một chấm nhỏ ở bãi Rạng.
– Mầy làm ổng mất mặt, – ba nói.
– Dạ.
– Mà mầy nói đúng. – Ba khom xuống nhặt cái thùng cá mồi. – Lần này tao không đếm.
Chuyện cá mồi bắt đầu từ cái thùng đó.
Xưa nay, cá mồi nhà Dềnh vẫn lấy chịu của dì Sáu, như cả nửa bãi Rạng. Dì Sáu mua cá tạp của ghe lưới đêm, ướp đá trong mấy cái bồn ở nhà kho, rồi bán chịu dần cho các bè, mỗi ngày mỗi bè vài thùng. Cá về nhà kho hôm nay thì có bè lấy hôm nay, có bè lấy ngày mốt. Đá tan, ướp lại. Tới tay người nuôi, có thùng còn tươi, có thùng mắt cá đã đục, thịt bở, mùi chua.
Chính ba vẫn chở mấy thùng đó đi khắp đầm mỗi sáng, không công, trả lãi cho cái sổ đỏ.
Hôm ở nhà văn hóa, anh Khoa khuyến ngư có nói một câu mà không ai để ý: cá mồi ươn là một trong mấy đường đưa bệnh vô lồng. Dềnh để ý. Cậu cũng nhớ, rõ như bàn tay mình, cái bến cá nhỏ ở mũi phía bắc đầm. Ghe lưới đêm cập vô đó lúc ba bốn giờ sáng, đổ cá tạp lên mấy tấm bạt trải trên cát, bán tại chỗ cho ai tới trước. Hồi ở Cam Ranh, ông chủ bè người Ninh Hòa không bao giờ mua cá mồi qua tay người thứ hai. Ông dậy lúc ba giờ, chạy ghe ra tận bến cá.
Thứ Hai, cậu ra bến cá lúc ba giờ rưỡi sáng bằng chiếc ghe nan của nhà. Trời tối mịt. Trên bãi cát có mấy cây đèn măng-sông treo trên cọc, mấy chục người đàn ông đàn bà đứng chờ. Ghe về. Cá đổ ra, còn nhảy, còn tanh mùi biển chứ không phải mùi đá tan. Cá liệt, cá cơm, cá nục con, mực lá vụn. Bốn nghìn rưỡi một ký, trả tiền mặt, không chịu.
Cậu mua hai chục ký, về kịp cho ba cho ăn lúc năm giờ. Tôm ở Gành Đỏ ăn như giành.
Thứ Ba, cậu đi lại. Lần này có bà Tư Chè đi theo, ngồi mũi ghe, ôm cái giỏ tiền. Thứ Tư, có thêm ông Sáu Lượm với ông Tư Ngạn, mỗi người chạy ghe riêng. Thứ Năm, cậu đứng trên bãi cát, cầm cây bút bi với một mẩu giấy. Cậu ghi: bè bà Tư mười lăm ký, bè ông Sáu hai chục, bè ông Tư hai lăm, bè ông Ba Cò mười tám, bè ông Cả Thìn ba chục, bè nhà mình hai chục. Mua một lần, cân một lần, một chiếc ghe chở hết, chia ở bến chung. Ông chủ ghe lưới thấy mua nhiều, bớt cho còn bốn nghìn.
Cả nhóm sáu bè đỡ được hai nghìn một ký. Và cá tươi.
Ba vẫn chở cá mồi cho mấy bè mối của dì Sáu mỗi sáng, sau khi chở cá của nhóm. Ba không nói gì về chuyện mua cá. Có bữa Dềnh thấy ba đứng trên mũi ghe, cầm một con cá liệt trong thùng của nhóm lên ngửi, rồi cầm một con trong thùng của dì Sáu lên ngửi, rồi thả cả hai xuống, lắc đầu, chạy tiếp.
Dềnh biết cậu đang làm gì. Cậu đang lấy đi của dì Sáu sáu mối cá mồi. Sáu mối trên khoảng ba chục. Không nhiều, mà đủ để dì biết.
Dì biết vào sáng thứ Sáu.
Năm giờ, khi chiếc ghe chở cá của nhóm vừa cập bến chung, dì Sáu đã đứng ở đầu cầu ván, mặc cái áo bà ba màu cà phê sữa, tay cầm cái nón lá, mặt hầm hầm. Sau lưng dì là hai người làm, và anh Cẩn, đi sau một quãng.
– Dềnh! – Dì Sáu gọi, cái giọng the thé vọng khắp bến. – Lên đây dì hỏi.
Dềnh leo lên cầu ván. Mấy người trong nhóm đứng dưới ghe, cúi mặt.
– Mầy đi mua cá mồi ở bến cá, mầy đem chia cho mấy bè mối của dì?
– Dạ.
– Ai biểu mầy?
– Dạ, không ai biểu dì. Con thấy cá ở đó tươi.
– Tươi. – Dì Sáu lặp lại. – Mầy nói cá của dì ươn?
Dềnh nhìn dì. Cậu có thể nói không phải. Cậu có thể nói để tiết kiệm tiền. Cả bến đang nghe.
– Dạ, có bữa ươn, dì, – cậu nói. – Tôm bây giờ đang bệnh. Cá ươn là thêm một đường bệnh.
Dì Sáu đứng sững một giây. Rồi dì quay sang mấy người dưới ghe.
– Bà Tư! Ông Sáu! Nợ cá mồi mấy người còn thiếu tui từ năm ngoái, nhớ chưa? Bây giờ đi mua tiền mặt chỗ khác, rồi tiền đâu trả tui?
Bà Tư Chè ngẩng lên, mặt tái đi. Không ai trả lời.
– Má, – anh Cẩn nói.
Anh bước lên trước. Anh đứng giữa má mình và Dềnh, tay cầm cây đèn pin nhỏ còn chưa tắt.
– Má, cá trong nhà kho để ba bốn ngày là chuyện thường. Con nói với má từ hồi tháng Sáu. Bồn đá nhà mình không đủ lạnh.
– Mầy im.
– Con không im. – Anh nói, không to, mà cả bến nghe. – Má biết cá ươn. Con biết má biết. Bè mình sáu lồng chết bốn. Má cũng ăn cá đó.
Dì Sáu tát anh.
Cái tát không mạnh, nghe một tiếng bép khô như vỗ vào cái thớt. Cặp kính anh Cẩn lệch đi một bên. Anh không đưa tay lên sửa. Cả bến im phắc. Bà Bảy Hến ở trong quán đứng sững, cái ấm nước trên tay.
Dì Sáu nhìn bàn tay mình, như nhìn tay một người khác. Rồi dì quay sang Dềnh. Mắt dì đỏ, mà giọng dì bình tĩnh tới lạnh.
– Mầy giỏi, – dì nói. – Mầy tính giỏi hơn ba mầy, tao nói rồi. Tính luôn cái này đi. Rằm tháng Chín, tao bán giấy nợ của ba mầy cho ông Mười. Khỏi dây dưa với nhà mầy nữa.
Dì đội nón, quay lưng, đi lên. Hai người làm đi theo. Anh Cẩn đứng lại.
Dềnh đứng trên cầu ván. Ghe dưới chân lắc lư. Cá mồi trong mấy cái thùng xốp còn ướt, còn bóng. Rằm tháng Chín. Cậu đếm, không cần đếm. Mười lăm tháng Chín âm lịch, Chủ Nhật, một tháng Mười Một dương lịch. Một ngày trước đêm bão.
Anh Cẩn đẩy cặp kính lại cho ngay.
– Mầy đừng nhìn tao vậy, – anh nói. – Má tao tát tao lần đầu năm tao hai lăm tuổi. Cũng đáng.
– Em xin lỗi anh.
– Xin cái gì. – Anh cười, cái cười méo vì má còn rát. – Bả nói rằm tháng Chín, là bả chưa bán. Bả còn cho mình một tháng. Bả không nói vậy với ai mà không có ý.
Dềnh nhìn theo cái nón lá của dì Sáu đi xa dần trên con đường đất, qua gốc dương, qua mấy người đàn bà ngồi lựa cá. Cái dáng dì đi nhanh, lưng thẳng, mà tới khúc quanh thì dì dừng lại một chút, đưa tay lên ngực áo, rồi đi tiếp.
– Anh Cẩn, – Dềnh nói. – Ông thương lái ngoài Bắc, dì nợ bao nhiêu?
– Má tao nói một trăm hai. Tao đoán còn hơn.
– Rằm tháng Chín người ta tới hả anh?
Anh Cẩn nhìn cậu, ngạc nhiên.
– Sao mầy biết?
Dềnh không biết. Cậu đoán. Một người như dì Sáu không tự dưng chọn ngày. Dì chọn ngày vì có người khác đã chọn cho dì.
– Tao nghe má nói điện thoại, – anh Cẩn nói, chậm. – Ổng nói rằm tháng Chín ổng vô, ổng không gửi người nữa. Ổng vô thì ổng lấy cái gì có trong nhà.
Hai anh em đứng trên cầu ván. Ghe lưới ngoài cửa đầm đang về, đèn trên cột buồm lắc lư. Phía bãi Rạng, mùi tôm chết vẫn bay vô theo con gió sớm.
Dềnh nghĩ tới ông Mười ngồi dưới mũi ghe sáng Chủ Nhật, xin một chỗ neo, rồi cười một tiếng qua mũi. Nghĩ tới năm chục triệu tiền mặt mà ông nói với thằng Ngổ là "còn chờ gom". Bè ông chết mười một lồng. Vựa ông cả tháng nay không thu được ký tôm nào khỏe. Ông lấy đâu ra năm chục triệu?
Và nếu tới rằm tháng Chín ông vẫn không có, thì ông thương lái ngoài Bắc sẽ vô, và lấy đi cái gì có trong nhà dì Sáu.
Trong tủ sắt nhà dì Sáu, có một cái sổ đỏ đứng tên Lữ Văn Sấm và Trương Thị Lài.
— Hết chương 22 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe