Chương 13: Đêm rằm dời lồng
– Gành Đỏ? – ba nhắc lại, như nhắc tên một chỗ ở nước ngoài. – Ngoài đó gió lớn. Đi ghe hai chục phút. Hồi nào tới giờ có ai nuôi tôm ngoài đó đâu.
– Vì vậy nên nước ngoài đó sạch, chú, – anh Cẩn nói.
Bốn người ngồi quanh bộ ván gian giữa, cái đèn bóng tròn treo trên đầu, tờ giấy kẻ ô ly của anh Cẩn trải ra giữa. Ba, anh Cẩn, Dềnh, và chú Lành ngồi thu lu ở góc, từ đêm quỳ trước bàn thờ tới giờ chưa dám nói câu nào lớn tiếng. Má ngồi ở bậc cửa buồng, nghe. Nội nằm trên võng ngoài hiên, nhưng Dềnh biết nội cũng nghe.
Anh Cẩn chỉ vào mấy cột số. Ở bãi Rạng, đáy bùn sâu, đen, mùi trứng thối khi khều lên. Nước buổi trưa nóng, buổi sáng sớm thiếu khí, có hôm con tôm phải bò lên sát mặt lưới để thở. Ở Gành Đỏ, anh đã chèo thúng ra đo năm lần: nước trong thấy đáy cát, chảy mạnh theo con nước ra vô cửa đầm, mát hơn bãi Rạng hai độ, khí nhiều hơn gần gấp đôi.
– Ngoài đó sóng gió thiệt, – anh nói. – Nhưng tôm hùm là con ở biển. Nó chịu sóng được. Cái nó không chịu được là nước tù.
Ba ngồi im, nhìn tờ giấy, điếu thuốc rê cháy dở giữa hai ngón tay.
– Mầy nói hay vậy, sao bè má mầy không ra đó?
Anh Cẩn cười, cái cười chua.
– Con nói má con ba năm rồi chú.
Ba không cười. Ba nhìn Dềnh.
– Mầy cũng muốn ra đó?
– Dạ.
– Mầy nghĩ tôm ở bãi Rạng sẽ chết?
Dềnh nhìn ba. Hôm ở nhà dì Út Trâm, cậu đã xin ba nghe mình một lần. Một lần thôi. Cậu không biết đây có phải là lúc dùng cái một lần ấy không. Nếu cậu dùng bây giờ mà sai, sẽ không còn lần nào nữa.
Nhưng cậu biết bãi Rạng. Cậu đã thấy nó vào cuối tháng Chín năm nay, trong một kiếp khác: mặt nước váng trắng, mùi tanh thối bay tận vô xóm, người ta vớt tôm chết bằng thúng.
– Dạ, – cậu nói. – Con nghĩ vậy. Không phải năm nào cũng chết. Nhưng năm nay nắng gắt, nước xấu sớm. Con sợ.
Ba nhìn cậu rất lâu. Rồi ba quay ra hiên.
– Má, – ba nói to. – Má nghe hông?
Ngoài hiên, tiếng võng kẽo kẹt ngừng.
– Nghe, – nội nói. – Hồi xưa ông bây thả lưới ở Gành Đỏ. Ổng nói nước ở đó nó thở. Ổng nói chỗ nào nước thở thì cá về, chỗ nào nước nín thì cá bỏ đi.
Ba im lặng. Má ở bậc cửa buồng cũng im. Chú Lành ngẩng lên lần đầu tiên.
– Anh Hai, – chú nói, giọng khản. – Em đóng bè cho. Em không lấy tiền.
Ba nhìn em trai mình. Cái nhìn ấy Dềnh không đọc được. Rồi ba dập điếu thuốc vào cái gáo dừa làm gạt tàn.
– Hai lồng, – ba nói. – Thử hai lồng. Lồng ba với lồng bốn. Chết thì tao chửi cả đám.
Họ mất hai tuần để chuẩn bị.
Muốn đặt bè ở Gành Đỏ phải báo trưởng thôn. Ông Chín Đước, sáu mươi tuổi, ngồi uống trà nghe anh Cẩn trình bày, rồi nói Gành Đỏ nằm trong vùng đầm cho nuôi, không ai cấm, chỉ là không ai dại đi ra đó. Ông ghi tên ba vô cuốn sổ của thôn, ký tên, rồi nói thêm: "Bão về thì tự lo nghen, thôn không cứu kịp đâu."
Muốn đóng bè phải có gỗ, có phuy, có dây neo. Dềnh đem hết tiền sửa máy cậu dành dụm được, cộng thêm mấy lần ông Ba Rô kêu lên Gò Nhạn sửa máy cho tiệm, được bảy trăm nghìn. Chú Lành bán cái đài cát-xét và cái võng dù, được hai trăm. Anh Cẩn lén má đem ra sáu cái phuy nhựa cũ trong kho nhà dì Sáu, nói để không cũng mục. Ba mua gỗ dầu cũ của một cái bè bỏ ở xã bên.
Chú Lành đóng bè trên bãi cát sau nhà, mỗi ngày từ sáng tới tối. Chú làm như người chuộc tội: không nghỉ trưa, không uống một giọt rượu, cởi trần, lưng đỏ au dưới nắng. Mấy người trong xóm đi ngang đứng lại coi, hỏi ông Út đóng bè cho ai, chú nói bè anh Hai tui, rồi cúi xuống đóng tiếp.
Con Sò thì giành phần vẽ. Nó đem cây bút lông xanh ra, ngồi xổm bên mấy cái phuy nhựa, vẽ lên mỗi cái một con cá. Cá đuối, cá ngựa, cá nóc phình bụng, cá voi phun nước. Chú Lành hỏi vẽ chi, nó nói vẽ cho tụi tôm ở ngoài đó khỏi buồn, ngoài đó không có bè nào chơi chung. Chú Lành cười, lần đầu tiên sau mấy ngày, rồi xin nó vẽ thêm một con cá lên bắp tay chú.
Má mỗi trưa nấu một nồi cơm, đem ra bãi cát, ba chú cháu ngồi ăn dưới bóng cái bè đang đóng dở. Má không nói gì về chuyện Gành Đỏ. Nhưng có bữa Dềnh thấy má đứng nhìn chú Lành cưa gỗ rất lâu, rồi lặng lẽ đặt thêm một khúc cá kho vô chén chú.
Dềnh phụ chú mỗi chiều sau giờ học. Thầy Phước bắt đầu cho ôn thi tốt nghiệp, đề cương dày như cuốn lịch. Tối cậu ngồi học trên gác tới mười hai giờ, bốn giờ rưỡi dậy ra bè với ba. Cậu học lại đạo hàm, tích phân, những thứ đã rơi mất trong đầu. Lạ là chúng quay về nhanh hơn cậu tưởng, như cái máy để lâu, lau chùi một chút là nổ. Có điều cậu không còn thấy chúng quan trọng như hồi mười tám tuổi thật.
Đêm mười lăm tháng Tư âm lịch, thứ Bảy, họ dời lồng.
Họ chọn đêm rằm vì hai lẽ. Trăng sáng, đi ghe giữa đầm thấy đường. Và dời tôm thì phải dời ban đêm, khi nước mát, con tôm đỡ sốc. Anh Cẩn nói vậy. Dềnh cũng biết vậy, từ hồi ở Cam Ranh.
Trăng lên lúc chạng vạng, tròn và đỏ như cái lòng đỏ trứng vịt, rồi nhạt dần thành vàng, rồi thành bạc. Tới chín giờ, mặt đầm sáng bạc, thấy rõ từng cái chòi ở bãi Rạng, thấy cả mỏm Gành Đỏ đen sẫm ở phía cửa đầm.
Cái bè mới đã được kéo ra Gành Đỏ từ chiều, neo bốn góc vào mấy hòn đá ong. Bây giờ là việc khó nhất: tách lồng ba và lồng bốn ra khỏi bè cũ, giữ nguyên tôm bên trong, kéo chậm qua đầm, rồi gắn vào bè mới.
Ba đứng trên bè cũ, cây đèn quấn keo đỏ ngậm ngang miệng, hai tay tháo dây cột lồng. Chú Lành ở dưới nước, lặn xuống cột phao đỡ đáy lồng. Anh Cẩn cầm lái chiếc ghe nan của nhà, Dềnh đứng mũi ghe giữ dây kéo.
Lồng ba được tháo ra trước. Cái khung gỗ vuông ba thước cùng tấm lưới treo bên dưới nổi lên trên mấy cái phao, một trăm con tôm hùm bông nằm trong đó, râu đỏ cam ngoe nguẩy dưới ánh trăng. Ba ra hiệu. Anh Cẩn cho máy chạy thật chậm, chậm tới mức tiếng máy chỉ như tiếng thở. Sợi dây trong tay Dềnh căng ra. Cái lồng nhích theo.
Họ đi được chừng năm chục thước thì có tiếng gọi từ bè bên cạnh.
– Sấm! Làm gì khuya khoắt vậy?
Ông Mười đứng trên mép cái bè mười bốn lồng của ông, trong cái chòi gạch có bóng đèn điện chạy bằng bình ắc quy. Ông mặc áo thun ba lỗ, tay cầm cây đèn pin to, rọi qua. Luồng sáng quét lên mặt ba, lên cái lồng đang nổi, lên mặt Dềnh.
– Dời ra Gành Đỏ, – ba nói vọng qua. – Thử hai lồng.
– Gành Đỏ? – Ông Mười cười to. – Ông khùng hả Sấm? Ngoài đó gió, một trận là mất sạch tôm! Hồi nào tới giờ ai nuôi ngoài đó?
– Thì thử.
– Thử cái gì mà thử. Thằng nhỏ xúi ông phải hông? – Luồng đèn pin rọi thẳng vào mặt Dềnh, chói lòa. Cậu nheo mắt, không quay đi. – Nghe con nít, mất tôm như chơi đó nghen!
Ba không trả lời. Ba chỉ giơ tay ra hiệu cho anh Cẩn chạy tiếp.
Ông Mười đứng nhìn theo. Luồng đèn của ông bám theo cái lồng một quãng dài, rồi tắt.
Dưới nước, chú Lành bơi theo sát cái lồng, một tay vịn khung. Chú ngoi lên thở, nhìn về phía bè ông Mười, lẩm bẩm một câu gì đó. Dềnh chỉ nghe được mấy chữ, lẫn trong tiếng máy.
– ...ổng sợ cái gì...
Dềnh định hỏi lại, nhưng chú đã lặn xuống.
Từ bãi Rạng ra Gành Đỏ mất gần một tiếng, vì phải chạy rất chậm. Càng ra xa, nước càng đổi màu. Ở bãi Rạng, nước màu trà, ánh trăng rọi xuống chỉ thấy mặt. Tới gần Gành Đỏ, nước trong dần, rồi trong veo. Dềnh cúi xuống mạn ghe, thấy đáy cát trắng dưới sâu ba bốn thước, thấy mấy cụm rong đung đưa theo dòng, thấy một bầy cá con lấp lánh như vảy bạc.
Nước ở đây chảy. Cậu cảm thấy nó qua sợi dây trong tay, cái kéo nhè nhẹ, đều đều, như hơi thở của một cái gì rất lớn.
Họ gắn lồng ba vào bè mới lúc mười một giờ. Rồi quay lại lấy lồng bốn. Tới hai giờ sáng thì xong cả hai.
Ba ngồi xuống mép bè mới, thở hồng hộc. Chú Lành nằm dài trên ván, ướt từ đầu tới chân, cười khùng khục, không biết cười cái gì. Anh Cẩn ngồi trong ghe, lấy cái nhiệt kế ra đo nước, ghi vô tờ giấy, cặp kính mờ hơi sương.
Dềnh đứng ở mép bè, nhìn xuống lồng ba. Ba bấm đèn rọi xuống cho cậu coi. Dưới ánh đèn trắng ngả vàng, trong làn nước trong veo, một trăm con tôm hùm bông bò chậm rãi trên đáy lưới, râu vươn ra đón dòng nước chảy qua. Có mấy con đứng im, như đang ngửi.
– Tụi nó thích, – ba nói. Giọng ba nhỏ, như sợ làm tôm giật mình. – Mầy coi. Tụi nó thích.
Dềnh nhìn ba. Dưới ánh trăng, gương mặt ba ướt nước biển, mấy nếp nhăn ở đuôi mắt hằn sâu. Ba đang cười. Không phải cái cười mệt của người làm ăn chưa bao giờ đủ. Mà cái cười của người vừa thấy một thứ mình nuôi được sống.
Họ về tới nhà lúc gần ba giờ. Ba ngủ trên võng ngoài hiên, ngáy. Dềnh lên gác, nằm, không ngủ được, cứ nghĩ tới mấy con tôm đứng im trong dòng nước chảy.
Năm giờ sáng, cậu với ba ra Gành Đỏ coi lại.
Từ xa, cái bè mới vẫn nằm đó, bốn góc neo chắc. Lồng ba vẫn nổi ngay ngắn. Nhưng lồng bốn hơi nghiêng một bên, và khi ghe chạy tới gần, ba tắt máy, đứng sững trên mũi ghe.
Tấm lưới bên hông lồng bốn có một vết rách dài gần một thước, thẳng tắp, như có ai cầm dao rạch từ trên xuống.
— Hết chương 13 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe