Chương 24: Tờ giấy của chú Út
Má không nói chuyện với Dềnh trọn một ngày Chủ Nhật.
Má không la, không khóc. Má đứng trong bếp nhìn ba nấu hư nồi nước lèo, rồi gạt ba ra, nấu lại, chậm, ngồi nghỉ ba lần. Má múc cho nội, cho con Sò, cho ba. Tới Dềnh, má múc đầy một tô, đặt xuống trước mặt cậu, rồi quay đi. Không nhìn.
Tối, khi Dềnh đang ngồi ngoài bến, má ra. Má không ngồi xuống. Má đứng sau lưng cậu.
– Mầy hứa với má.
– Dạ.
– Mầy hứa, rồi mầy đem đưa ổng.
– Con giữ được sáu tháng, má. – Dềnh không quay lại. – Con giữ tới bữa thuốc má còn tám viên.
Má im một lúc lâu. Cậu nghe tiếng má thở sau lưng, cái tiếng thở rít nhẹ như gió lùa qua khe ván.
– Bữa đó má tính ký, – má nói. – Mầy biết hông? Má tính rồi. Bả nói xong, má nằm tính cả buổi chiều. Một trăm tám chục triệu. Mầy đi học. Ba mầy khỏi nợ. Má đi mổ. Cái nhà thì... – Má ngừng. – Cái nhà thì má với ba mầy cất lại được.
– Không cất lại được đâu má.
– Sao mầy biết?
Dềnh không trả lời. Má đặt bàn tay lên đầu cậu, không xoa, chỉ để đó, nặng, ấm.
– Giống ba mầy, – má nói. – Giữ không nổi cái gì lâu. Mà giữ được cái gì thì giữ tới chết.
Rồi má đi vô.
Sáng thứ Hai, Dềnh bấm cái số trên mẩu giấy gấp tư từ cái điện thoại bàn ở quán bà Bảy Hến. Mẩu giấy đã nằm trong túi áo ngực cậu từ tháng Bảy, mềm như vải. Chuông reo bốn lần.
– Phòng tiếp nhận hồ sơ hỗ trợ, chị Nhã nghe.
– Dạ, chị, em là Dềnh, ở Phú Yên. Hồi tháng Bảy em có tới hỏi cho má em. Hẹp hở van hai lá. Chị đưa em mẩu giấy...
Đầu dây im một chút.
– Cái em trai đi thi đại học đó hả? – Giọng chị Nhã nhẹ đi. – Chị nhớ. Em đậu hông?
– Dạ đậu.
– Vậy là tốt. – Có tiếng giấy lật. – Má em sao rồi?
Dềnh kể. Chị Nhã nghe, không ngắt, rồi nói từng điều, chậm, cho cậu ghi: đưa má vô khám vào thứ Hai tuần sau, sáng sớm, đem theo hết giấy tờ khám ở tỉnh. Xin giấy xác nhận hoàn cảnh của xã, ghi rõ nghề, thu nhập, nợ. Bác sĩ khám xong chỉ định mổ thì mới làm hồ sơ. Có lịch mổ thì chị trình cho mấy nhóm hỗ trợ. Chị không hứa được bao nhiêu.
– Mà em nghe chị, – chị nói, trước khi cúp máy. – Chân sưng là không chờ được nữa. Thứ Hai tuần sau là phải vô.
Thứ Ba, ba với ông Chín Đước lên ủy ban xã. Ba mặc cái áo sơ mi trắng đi đám cưới. Ông Chín Đước kẹp cuốn sổ thôn dưới nách. Họ đi từ bảy giờ sáng tới trưa mới về, ba cầm trong tay một tờ giấy có con dấu đỏ, gấp làm đôi, cầm như cầm một con tôm sống.
– Ông Chín ổng nói giùm, – ba kể với má. – Cán bộ xã hỏi nhà có bè, có ghe, có nhà, sao gọi là khó khăn. Ông Chín nói nhà nó có bè mà bè đang nợ, có nhà mà nhà đang cầm, có ghe mà ghe cũ hơn thằng chủ. Người ta cười, rồi người ta ký.
Má cầm tờ giấy, đọc từng chữ, rồi đưa lại cho ba, không nói gì. Nhưng má không nói "để má tính" nữa.
Tối thứ Bảy, dì Út Trâm gửi theo xe đò năm triệu, gói trong một cái khăn tay, kèm mảnh giấy viết bằng bút chì: "Chị Hai đi mổ cho em mừng. Tiền này cho mượn, chừng nào có thì trả, không có thì thôi." Má cầm cái khăn tay, khóc lần đầu trong tuần.
Chủ Nhật, ba má lên xe giường nằm vô Sài Gòn. Ba xách cái giỏ đệm của má, cái túi ni lông đựng giấy tờ, và cây đèn quấn keo đỏ thò ra khỏi túi quần sau, như mọi khi. Con Sò ôm má ở ngã ba quốc lộ, không chịu buông. Nội không ra, nội ngồi ở hiên, nói đi đi, về sớm.
Trước khi bước lên xe, ba quay lại nhìn chú Lành. Chú Lành đứng sau lưng Dềnh, tay đút túi quần, mắt nhìn xuống đường. Đã gần một tháng ba không nói với chú câu nào ngoài chuyện tôm.
– Lành, – ba nói.
Chú Lành ngẩng lên.
– Mầy coi bè với thằng Dềnh. Bốn ngày.
– Dạ. – Chú Lành nói, như một đứa nhỏ. – Em coi.
Xe chạy. Dềnh đứng nhìn theo. Bên cạnh, chú Lành đứng im rất lâu, rồi quay lưng đi về phía bến, đi nhanh, không đợi cậu.
Hai ngày đầu không có gì. Dềnh với chú Lành thay nhau ngủ ở bè Gành Đỏ. Sáng ba giờ rưỡi cậu chạy ghe ra bến cá mua cá mồi cho nhóm, năm giờ cho tôm ăn, rồi chở cá cho mấy bè mối của dì Sáu thay ba. Không ai trả tiền. Người ta vẫn vẫy tay nói cảm ơn nghen thằng Dềnh, rồi quay đi. Cậu ném thùng cá lên ván bè người ta, hai tay nhấc qua đầu như ba, và hiểu ra cái nặng đó không nằm ở thùng cá.
Tối thứ Ba, lúc chín giờ, có tiếng máy ghe từ phía bãi Rạng chạy ra. Thằng Lợi. Nó không cột ghe, chỉ cho ghe trôi sát mép bè, ngẩng lên nói với chú Lành:
– Ông Út, ông Mười kêu ông vô vựa nói chuyện.
Chú Lành ngồi trên mép bè, không đứng dậy.
– Chuyện gì?
– Tui không biết. Ổng biểu tui chở ông vô.
Chú Lành quay lại nhìn Dềnh. Một cái nhìn dài. Rồi chú đứng dậy, phủi quần, bước xuống ghe thằng Lợi.
– Mầy ở đây, – chú nói. – Đừng đi theo.
– Chú...
– Ở đây. Coi bè. Tao hứa với anh Hai rồi.
Ghe chạy đi. Dềnh ngồi lại một mình trên bè Gành Đỏ, nhìn về phía bãi Rạng, nơi cái bóng đèn trong vựa ông Mười sáng vàng một chấm. Gió đêm tháng Mười đã có hơi lạnh. Dưới chân, nước chảy qua bốn cái lồng, róc rách như mọi đêm.
Cậu ngồi đó tới gần mười hai giờ. Thằng Lợi chở chú Lành về. Chú leo lên bè, không nói gì, đi thẳng vô cái chòi nhỏ, nằm xuống, kéo mền trùm kín đầu. Dềnh đứng ở cửa chòi.
– Chú Út.
Không có tiếng trả lời.
– Ổng nói gì chú?
Một hồi lâu. Rồi từ dưới cái mền, giọng chú vọng ra, khàn, nghèn nghẹt:
– Ngủ đi Dềnh. Mai tao nói.
Cậu không ngủ được. Cậu nằm ngoài ván, nhìn lên trời, nghe tiếng chú Lành trở mình trong chòi. Chú không có mùi rượu. Cậu đã ngửi, lúc chú đi ngang. Chú không có mùi gì cả, ngoài mùi mồ hôi.
Cậu nằm nghĩ tới mấy cái máy chú sửa không lấy tiền cho bè bà Tư Chè, tới cái bè Gành Đỏ chú đóng cả tháng trời dưới nắng, tới câu "em nợ anh Hai cái sổ đỏ". Cậu nghĩ tới tiếng cười khùng khục của chú đêm dời lồng, nằm ướt sũng trên ván. Một người như vậy, ông Mười kêu vô vựa ba tiếng đồng hồ, có thể nói gì với chú.
Cậu ngủ thiếp đi lúc gần sáng. Khi cậu mở mắt, trời đã hửng. Cái chòi trống. Cái mùng của chú Lành xếp gọn ở góc, cái mền gấp vuông vức đặt lên trên, như người ta xếp đồ trả lại nhà trọ. Cây chĩa ba dựng ở cột. Nồi cơm úp ngược.
Chú Lành không còn trên bè. Chiếc thúng chai nhỏ chú hay chèo vô bờ cũng không còn.
Dềnh cho tôm ăn một mình, rồi chạy ghe vô bờ. Cái chòi máy cạnh quán bà Bảy Hến vẫn đóng, tấm tôn chặn ngang. Cậu hỏi bà Bảy.
– Ông Út hả? – bà Bảy ngẩng lên khỏi cái ấm nước. – Thấy ổng đón xe đò đi Gò Nhạn hồi bảy giờ. Vác cái bao. Mặt mày như người đi đám ma. Tui hỏi đi đâu, ổng không nói.
Cậu đứng giữa quán. Chiếc thúng chai của chú Lành nằm úp trên bãi cát gần bến chung, khô, như đã nằm đó từ sáng sớm.
Cậu đi dọc con đường đất về phía đầu xóm, hỏi mấy người đàn bà ngồi lựa cá dưới gốc dương. Không ai thấy gì. Tới trước cái nhà ngói đỏ của dì Sáu, cậu gặp ông Chín Đước từ trong cổng đi ra, cuốn sổ thôn kẹp dưới nách, cái nón cối kéo sụp xuống trán. Ông thấy cậu thì khựng lại một chút, gật đầu, rồi đi nhanh về phía nhà văn hóa, không hỏi cậu đi đâu, cũng không nói gì. Cậu đứng nhìn theo, rồi nghĩ chắc ông tới đòi tiền vôi cho mấy cái hố chôn tôm.
Cả ngày thứ Tư, cậu đợi. Tối thứ Tư, cậu đợi. Không có chú Lành.
Trưa thứ Năm, cậu ra quán bà Bảy Hến mua ổ bánh mì. Thằng Ngổ ngồi ở cái bàn ngoài, chân gác lên ghế, như cái bữa ông Mười đập tám triệu vô ngực nó. Hôm nay nó không bấm điện thoại. Nó đang nói, to, cho cả quán nghe, tay cầm một tờ giấy học trò gấp đôi, phe phẩy như cây quạt.
– Ông Út đi rồi! Đi Sài Gòn làm ăn rồi. Cậu tui cho mười lăm triệu làm vốn, có giấy đàng hoàng. – Nó mở tờ giấy ra, giơ lên. – Nè, chữ ổng ký nè. "Tôi Lữ Văn Lành, không nợ nần ai, không biết chuyện gì, nhận mười lăm triệu của ông Thân Văn Hảo để đi làm ăn xa." Ổng tự viết. Ổng tự ký. Ông Út bữa nay biết điều.
Mấy ông trong quán cười. Có người nói ông Mười chịu chơi thiệt, nuôi thằng Lành tới cùng. Có người nói vậy cũng tốt, thằng Lành đi khỏi đây khỏi sòng bài.
Thằng Ngổ quay lại, thấy Dềnh đứng ở cửa quán. Nó nhìn cậu, cười cái cười nhếch mép, rồi gấp tờ giấy lại, nhét vô túi áo ngực, vỗ vỗ.
– Thằng cháu ông Út đó hả? – nó nói. – Chú mầy gửi lời chào.
Dềnh cầm ổ bánh mì, đi ra. Cậu đi tới gốc dương ở đầu bến, đứng đó, không ăn.
Chú Lành là người duy nhất ngồi ở cái sòng đó mà chịu nói. Người duy nhất thấy cái xe máy dựng sau nhà thằng Ngổ lúc ba giờ sáng. Người duy nhất biết thằng Tèo. Bây giờ chú đã ký một tờ giấy nói rằng chú không biết chuyện gì, và mười lăm triệu của ông Mười đang nằm trong cái bao chú vác lên xe đò.
Kiếp trước, sau đám tang ba bốn mươi chín ngày, chú cũng biến mất như vậy. Người ta cũng nói chú nợ sòng, bỏ trốn. Mười bốn năm sau, ở bến xe Miền Đông, chú nắm tay cậu nói một câu rồi lách vô đám đông.
Có những chuyện mình sửa được. Có những người mình không giữ được.
Dềnh đứng dưới gốc dương cho tới khi ổ bánh mì nguội ngắt trong tay.
— Hết chương 24 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe