Chương 35: Tôm Tết
Cái sổ đỏ nằm lại trong hộp bánh quy thiếc vào chiều thứ Sáu, mười tám tháng Mười Hai, và người đặt nó vô là má.
Má về tới nhà lúc ba giờ chiều, ngồi xe giường nằm, ba đỡ xuống ở ngã ba quốc lộ. Má đi chậm, mỗi bước một nghỉ, cái vết mổ dài giữa ngực còn băng dưới cái áo bà ba. Bác sĩ dặn ba tháng đầu không làm nặng, không bưng, không xách, uống thuốc đều theo toa, tái khám đúng hẹn. Ba nhắc lại từng chữ trên xe, như đọc kinh.
Con Sò chạy ra tới ngã ba, ôm ngang hông má, rồi giật mình buông ra, sợ đụng vết mổ. Má kéo nó lại, ôm.
Vô tới nhà, má không ngồi xuống bộ ván như ba biểu. Má đi thẳng tới tủ thờ. Má khom xuống, chậm, một tay vịn cạnh tủ, kéo cái hộp thiếc ra. Má mở nắp. Tờ giấy báo nhập học. Tờ giấy khám. Cái toa thuốc. Tờ siêu âm gấp tư.
Ba đưa cái sổ đỏ cho má. Má cầm nó, lật ra coi cái tên mình, rồi đặt nó vô hộp, nằm trên cùng, phẳng, ngay ngắn. Rồi má đóng nắp lại, đẩy cái hộp vô chỗ cũ.
– Rồi, – má nói. Chỉ vậy.
Má mới chịu ngồi xuống.
Hai ngày sau, anh Khoa khuyến ngư xuống Vũng Mây.
Ba đã lên xã từ hôm thứ Bảy, mang theo tờ kết quả xét nghiệm của phòng thí nghiệm Nha Trang, cả hai tờ, tờ của lô tôm bò và tờ của ba con tôm lớn vớt ở cửa đầm. Ba kể với anh Khoa từ đầu: lô tôm bệnh bán từ một bè ở bãi Rạng, tôm chết đem đổ ở cửa đầm ban đêm từ tháng Tám, con nước đưa vô. Ba kể cụt, đủ, không thêm, không gọi ai là thằng gạt. Anh Khoa ghi vô sổ, rồi nói phải họp thôn.
Nhà văn hóa thôn tối thứ Hai đông hơn bữa họp tháng Chín. Người ta tới vì sau bão, ai cũng muốn biết vụ tới nuôi ở đâu, nuôi sao. Anh Khoa nói về bệnh sữa, về cách nó lây, về cái hố vôi trên cát. Rồi anh nói, giọng cẩn thận, rằng xã đã có kết quả xét nghiệm cho thấy bệnh có thể đã lan từ tôm chết bị đổ xuống đầm.
Cả gian nhà rì rầm. Có người hỏi của bè ai.
Ba ngồi ở hàng ghế giữa. Ba không đứng dậy. Dềnh ngồi cạnh ba, thấy hai bàn tay ba nắm lại trên đầu gối.
Ở hàng ghế thứ hai, ông Mười đứng dậy.
Ông không giơ tay xin nói như bữa tháng Chín. Ông chỉ đứng lên, quay mặt ra cả nhà. Cái áo sơ mi trắng. Cái cổ không dây chuyền. Cái vết sẹo đỏ hồng trên cánh tay trái.
– Bè tui, – ông nói.
Cả gian nhà im phắc.
– Tôm bè tui bệnh từ tháng Sáu. Tui biết. Tui giấu. Tui cho người đổ xác ra cửa đầm, đổ ban đêm. Tui sợ người ta biết bè ông Mười có dịch thì thương lái ép giá, tui sợ mất cái vựa. – Ông ngừng lại. Giọng ông không run, mà chậm, như người khiêng một vật nặng qua một cái cầu hẹp. – Tui có lỗi với bà con. Tui không có gì đền. Tui chỉ nói ra cho bà con biết, năm tới mà giữ.
Ông ngồi xuống.
Không ai nói gì một hồi lâu. Rồi bà Tư Chè, ngồi ở hàng ghế cuối, khóc. Không ai biết bà khóc vì hai cái lồng của bà, hay vì cái gì khác.
Dềnh nhìn ông Mười ngồi ở hàng ghế thứ hai, cái lưng to bè còng xuống. Ông đã tự đứng lên. Không ai bắt ông. Ba đã giữ lời, không nói tên ông. Ông tự nói. Cậu hiểu ra đó là cái thể diện cuối cùng mà ông giữ được: thà tự mình nói ra trước cả làng, còn hơn để người khác nói về mình.
Sau buổi họp, ông Chín Đước giữ anh Cẩn lại, trải lên bàn tờ sơ đồ Gành Đỏ anh vẽ từ tháng Mười Một. Mười hai cái bè đã ghi tên xin ra đó vụ tới. Ông Chín chấm từng chỗ, mỗi bè cách nhau ít nhất năm chục thước, mỗi bè không quá sáu lồng, mỗi lồng thả không quá tám chục con. Anh Cẩn ghi luật đó lên một tấm bìa, dán ở nhà văn hóa. Cái tên đầu tiên trong danh sách mười hai bè, viết bằng chữ tròn tròn, là Cao Thị Ngà.
Dì Sáu tới nhà Dềnh vào một buổi trưa cuối tháng Mười Hai.
Dì đi một mình, không có anh Cẩn, mặc cái áo bà ba màu cà phê sữa. Dì vô hỏi thăm má, ngồi ở mép bộ ván, coi vết mổ, chặc lưỡi, nói ghê quá, rồi nói đỡ quá. Dì không nhìn ba. Ba ngồi ngoài hiên vá lưới.
Lúc về, dì đứng ở cửa, móc trong túi áo ra một cái phong bì, đặt lên bộ ván cạnh má.
– Gì vậy chị Sáu? – má hỏi.
– Tiền. – Dì nói gọn. – Tao tính lại rồi.
Dì quay ra hiên, lần này nhìn ba.
– Ông Sấm. Mười bốn tháng nay ông chở cá mồi cho mối của tôi, mỗi sáng ba bốn chuyến, không lấy đồng nào, trừ lãi. Tôi lấy lãi ba phân. Ba phân là cao. Thằng Cẩn nó đi hỏi trên xã, về chửi tôi. Tôi tính công chở cá theo giá thuê người ta, trừ ra cái lãi cho đúng mức người ta cho vay, còn dư. – Dì chỉ cái phong bì. – Sáu triệu. Ông cầm.
Ba ngẩng lên. Cây kim vá lưới dừng giữa chừng.
– Tui không cần, bà Sáu.
– Ông không cần thì chị Lài cần. – Dì Sáu nói, cái giọng the thé quen thuộc. – Nợ là nợ, tình là tình. Mà tính cho đúng thì nó mới là nợ. Tính sai thì nó là ăn cướp.
Dì đội nón, đi ra cổng. Tới gốc mù u thì dì dừng lại, không quay đầu.
– Cái giấy, – dì nói. – Tôi bán cho ổng hôm rằm tháng Chín. Ổng ngồi trong buồng nhà tôi ba tiếng. Ông thương lái ngoài Bắc ngồi ngoài phòng khách. Tôi bán. Tôi không xin lỗi ông. Tôi chỉ nói cho ông biết là tôi bán.
– Tui biết, – ba nói.
Dì Sáu đứng thêm một chút, rồi đi.
Tháng Giêng dương lịch, Vũng Mây đổi gió. Gió bấc hiu hiu, trời trong, nước đầm lạnh và trong. Chú Lành mở lại cái chòi máy cạnh quán bà Bảy Hến. Chú gỡ tấm tôn chặn ngang, quét mạng nhện, lắp lại cái bóng đèn tuýp. Thằng Tèo làm thợ phụ, ăn ngủ trong chòi. Chú không hát vọng cổ được nữa, vì cái đài đã bán từ tháng Năm. Con Sò vẽ lên tấm vách tôn một con cá voi phun nước bằng sơn đỏ, to bằng cái cửa, nói để cho chòi máy khỏi buồn.
Thằng Ngổ đi rồi, mà cái sòng nào cũng còn người cũ. Có một bữa, một gã từng ngồi chiếu với chú hồi năm ngoái chạy xe xuống tận chòi, đứng ở cửa, cười, rủ chú Lành lên thị trấn chơi một ván cho vui, ăn Tết. Chú Lành đang nằm dưới gầm cái máy đuôi tôm. Chú không chui ra. Chú nói vọng ra:
– Tao bận. Tao nợ thằng Tèo một cái nghề.
Ngày hai mươi bốn tháng Giêng, Chủ Nhật, mười tháng Chạp âm lịch, bà Diệu chạy ghe từ Nha Trang ra Gành Đỏ.
Giá tôm hùm bông gần Tết lên. Một trăm tám mươi mốt con tôm còn lại, sau mấy con chết lai rai hồi tháng Mười Hai, con nào cũng chắc thịt, vỏ bóng, vằn xanh vàng rõ như ai vẽ. Có con gần tới ký. Ba lặn xuống lồng bắt từng con lên, cũng cái kiểu cầm lên ngó một hồi như hồi tháng Mười. Mà lần này ba cười.
Bà Diệu cân, ghi bằng bút chì, cộng bằng cái máy tính bỏ túi. Bà nói một con số. Ba nghe xong, ngồi xuống mép bè.
Con số đó trả được hết. Hai lăm triệu cho ông Mười. Mười ba triệu cho dì Út Trâm, cái vòng tay vàng và cái khăn tay. Tiền giống bốn trăm con tôm bò từ tháng Mười Một năm ngoái, với tiền cá mồi chịu cả năm, ba còn nợ trong sổ dì Sáu. Phần viện phí còn thiếu ba đã ký nợ với bệnh viện. Còn dư một khoản, không nhiều, đủ để thả giống vụ mới, ba lồng, thưa, ở Gành Đỏ.
Chiều đó, ba đi bộ ra vựa ông Mười.
Cái vựa giờ đã khác. Một nửa đã sang tên cho ông thương lái ngoài Bắc, ông Mười bán để trừ nợ, hàng rào mới dựng chia đôi cái sân. Nửa còn lại ông Mười tự làm, không còn người làm. Thằng Lợi đã qua làm bè cho dì Sáu ở Gành Đỏ, dưới tay anh Cẩn.
Ông Mười đang ngồi xổm ở mép cái cầu ván mới sửa, vá một tấm lưới. Thấy ba, ông đứng dậy.
Ba đưa cái túi ni lông. Ông Mười mở ra, không đếm. Ông móc trong túi áo ra cái bọc ni lông cũ, gỡ thun, lấy ra tờ giấy gấp đôi có chữ dì Sáu.
Ông đứng nhìn nó một lúc. Rồi ông xé nó làm đôi. Làm tư. Ông giơ tay ra ngoài mép cầu ván, thả mấy mảnh giấy xuống nước.
– Lần trước tui xé cái không còn giá, – ông nói. – Lần này xé cái có giá.
Ba nhìn mấy mảnh giấy chìm. Ba không nói gì. Ba gật đầu với ông, cái gật như người ta gật với một người quen gặp ngoài chợ. Rồi ba quay về.
Tối hai mươi tám Tết, thằng Khang đạp xe tới, áo sơ mi trắng, tóc cắt ngắn, khoe đã học xong học kỳ đầu ở trường sư phạm. Nó ngồi ăn bánh tét với cả nhà, rồi kéo Dềnh ra bến.
– Tháng Bảy mầy thi lại thiệt hả?
– Ừ.
– Kinh tế?
Dềnh lắc đầu.
– Thủy sản. Trường ở Nha Trang. Thầy của anh Cẩn dạy ở đó. Nuôi trồng.
Thằng Khang ngó cậu như ngó một thằng khùng, rồi bật cười.
– Đậu kinh tế rồi bỏ, đi học nuôi tôm. Má mầy chịu hả?
– Má tao nói học cái gì cũng được, miễn là học. – Dềnh nhìn ra mặt đầm, về phía Gành Đỏ, nơi có đốm đèn của bè dì Sáu mới kéo ra. – Má tao nói cái giấy báo nhập học trường kinh tế để lại trong hộp thiếc, cho nhớ.
Tối ba mươi Tết, ba ngồi ở bến nhỏ sau nhà, lau cây đèn pin quấn keo đỏ bằng một miếng giẻ dầu. Ba gỡ hết lớp keo mới tưa sợi của Dềnh, chỉ để lại vòng keo cũ của ba, đỏ đã bạc gần thành hồng. Ba bấm thử. Sáng. Ba rọi xuống mặt nước dưới chân cọc, như mọi tối, và một bầy cá đối con giật mình búng tung tóe. Ba tắt đèn, rồi bấm lại, rồi tắt, như thử coi nó còn nghe lời mình không.
– Mai, – ba nói với Dềnh, không quay lại, – mùng Một. Cả nhà ra bè.
— Hết chương 35 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe