AI Truyện

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Đèn còn sáng dưới đáy sông

Năm mười tám tuổi, con về giữ bè cho ba · Chương 1/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc🎧 10 phút · giọng Bảo Thiện

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Cây đèn pin vẫn sáng khi Dềnh chìm tới…
  2. 2:11Cây đèn vẫn ở trong tay. Cậu không nhớ…
  3. 3:53Dềnh! Mầy có nghe má kêu hông?
  4. 5:26Cậu đứng giữa sân hít mùi bùn đầm, mùi…
  5. 6:38Cậu quay vô nhà. Nội ngồi trên bộ ván…
  6. 7:45Cây đèn pin ba pin vỏ nhôm. Đầu đèn…
  7. 8:57Dềnh đang ngồi xổm trên tấm ván, nghe câu…
  8. 10:02Thứ Bảy, con học chiều.

Chương 1: Đèn còn sáng dưới đáy sông

Cây đèn pin vẫn sáng khi Dềnh chìm tới đáy sông.

Trước đó chừng mười phút, cậu còn đứng trên boong chiếc tàu lai dắt ở cảng Cát Lái, áo mưa dán vào lưng, một tay vịn lan can. Tay kia cầm cây đèn pin ba pin vỏ nhôm, đầu đèn quấn một vòng băng keo điện màu đỏ đã bạc gần thành hồng. Mưa tháng Mười Một ở Sài Gòn không lớn, chỉ dai. Nó rơi xéo qua quầng đèn vàng của cần cẩu, rơi xuống mặt sông đen kịt, rơi xuống mấy cuộn dây cáp nằm ngổn ngang trên boong như những con trăn ngủ.

Đêm đó là đêm mười sáu tháng Chín âm lịch. Giỗ ba, lần thứ mười sáu.

Hồi chiều Dềnh đã gọi cho con Sò hai lần. Lần đầu máy bận. Lần sau đổ chuông tới tắt. Cậu nhắn: "Mai anh gửi tiền về chùa cúng ba, mầy khỏi lo." Tin nhắn hiện chữ đã gửi, rồi nằm yên đó. Con Sò ở khu công nghiệp bên kia sông, chồng nó làm ca đêm, hai đứa nhỏ, chắc nó ngủ sớm.

Thằng phụ máy tên Thắng ló đầu ra khỏi cabin, la:

– Anh Dềnh! Dây mũi kẹt trong ròng rọc kìa. Ông thuyền trưởng biểu gỡ lẹ, tàu hàng sắp ra.

Dềnh gật, nhét cây đèn vào túi áo mưa, rồi nghĩ sao lại lấy ra, ngậm ngang miệng như mọi khi. Cây đèn đã theo cậu qua ba con tàu, hai bè tôm, bốn phòng trọ. Mặt kính trầy, lò xo trong đít đèn phải độn một miếng giấy bạc gói thuốc lá. Nhưng nó vẫn sáng, cái thứ ánh sáng trắng hơi ngả vàng, rọi ra xa chừng hai chục thước là tản, đủ để thấy đầu dây, thấy mép lồng, thấy mặt người.

Mười sáu năm trước, người ta vớt nó lên từ dây neo một cái bè trên đầm Vũng Mây. Lúc đó nó còn sáng. Ba thì không.

Cậu cúi xuống ròng rọc. Sợi cáp bị kẹt chéo, phải nhấc một vòng lên mới gỡ được. Cậu đặt chân trái lên mép boong cho có thế, nghiêng người, kéo. Sợi cáp nhúc nhích. Chiếc tàu hàng phía trước kéo một hồi còi dài, sóng từ chân vịt của nó đánh tới, chiếc tàu lai chồm lên rồi hẫng xuống.

Chân trái Dềnh trượt khỏi mép thép ướt.

Cậu thấy quầng đèn cần cẩu xoay một vòng trên đầu, thấy mặt sông đen chồm lên, rồi nước sông tràn vào mũi, vào miệng, lạnh và tanh mùi dầu. Áo mưa phồng lên như một cái bao rồi bó chặt lấy cánh tay. Cậu vùng. Đôi ủng cao su nặng như hai cục đá. Phía trên, tiếng chân vịt chiếc tàu hàng ầm ầm dội xuống, cuốn cậu đi theo một hướng không phân biệt được là lên hay xuống.

Cây đèn vẫn ở trong tay. Cậu không nhớ mình đã nắm nó chặt như vậy từ lúc nào.

Dưới nước, ánh đèn biến thành một cái cột mờ, đầy bụi phù sa lấp lánh. Dềnh nhìn cái cột sáng ấy và tự dưng nghĩ tới một chuyện không đâu. Hồi nhỏ ba hay rọi đèn xuống nước để coi tôm trong lồng, và cậu, ngồi trên vai ba, tưởng ba đang rọi xuống một cái giếng có đáy là trời.

Rồi cậu không thở được nữa. Rồi ánh sáng ấy cũng không còn là ánh sáng.

Có tiếng muỗng nhôm khua vào thành nồi. Ba tiếng, ngừng, lại ba tiếng.

Dềnh mở mắt. Trên đầu là một mảng mái tôn, chỗ mép bị rỉ thủng một lỗ bằng ngón tay, qua lỗ đó thấy một chấm trời xám nhạt. Mùi nước lèo xương heo hầm từ khuya bốc lên qua khe ván, lẫn mùi hẹ cắt, mùi khói củi. Ở góc nhà có tiếng ho của một bà già, cái kiểu ho khan ba tiếng rồi khạc, rồi lẩm bẩm "mô Phật".

Lưng cậu áp xuống một tấm chiếu cói. Không phải boong tàu. Không phải đáy sông. Cậu đưa tay lên mặt, tay khô. Tay nhỏ hơn. Ngón trỏ không có vết sẹo bỏng do ống xả năm hai mươi tám tuổi.

Tiếng muỗng lại khua. Rồi giọng một người đàn bà, khàn vì dậy sớm:

– Dềnh ơi! Dậy phụ má bưng nồi ra xe, trễ rồi con!

Cậu ngồi bật dậy, đầu cộc vào cây đòn tay. Cái gác lửng. Cái gác ván ba đóng năm cậu mười tuổi, có cây đòn tay ngang tầm trán mà năm nào cậu cũng cộc đầu, cho tới cái năm nhà bị bán.

Trên vách ván treo một tờ lịch bóc. Tờ trên cùng in chữ đỏ: Thứ Bảy. Số dương lịch to tướng: 4. Tháng Tư. Năm 2009. Góc dưới in chữ nhỏ: mười tháng Ba, năm Kỷ Sửu.

Dềnh nhìn tờ lịch rất lâu. Cậu đọc đi đọc lại cái năm in trên đó. Rồi cậu lật bàn tay lên, nhìn. Mấy đầu ngón tay sạch, không dính dầu nhớt, móng không đen. Cổ tay gầy. Cậu đưa tay sờ cằm: lún phún mấy sợi râu non chứ không phải bộ râu ba ngày chưa cạo.

– Dềnh! Mầy có nghe má kêu hông?

– Dạ! – cậu đáp, và giật mình vì giọng mình. Giọng con trai mười tám tuổi, còn vỡ, còn lên xuống như cái máy chưa ăn ga.

Cậu bò ra mép gác, thò chân xuống cái thang tre. Bậc thứ ba từ dưới lên bị nứt, phải bước dài qua. Chân cậu tự nhớ cái nứt ấy trước khi đầu cậu kịp nhớ.

Dưới nhà, má đứng bên cái bếp củi kê ba ông táo bằng gạch, hai tay quấn hai cái giẻ, đang nhắc nồi nước lèo xuống. Cái nồi nhôm hai mươi lít, đáy đen bóng, nắp móp một bên. Má mặc áo bà ba màu tím than, tóc vấn cao, cổ quấn cái khăn rằn. Má bốn mươi mốt tuổi. Má chưa có sợi tóc bạc nào ở mái trước.

Dềnh đứng dưới chân thang, không bước tới được.

Lần cuối cậu thấy má là trong cái hòm gỗ ván ép rẻ tiền, sáng mùng Một Tết năm Giáp Ngọ, ở căn nhà thuê xóm trong. Môi má tím, hai bàn tay xếp trên bụng sưng phù. Cả buổi sáng người ta đi chúc Tết ngang qua cửa, thấy nhang khói thì đứng lại một chút, rồi đi.

Bây giờ má đang thổi một sợi tóc rơi trên trán, nhíu mày nhìn cậu:

– Đứng đó làm chi? Mặt mầy sao xanh lè vậy? Mớ ngủ hả?

– Dạ... con nằm mơ.

– Mơ thì mơ, bưng nồi dùm má cái. Hôm nay thứ Bảy, khách đông.

Dềnh bước tới, cầm hai quai nồi. Nồi nặng, nóng xuyên qua giẻ. Cậu bưng ra sân, đặt lên cái baga xe đạp thồ đã cột sẵn tấm ván. Sân đất nện, góc sân có cây mù u, gốc quấn mấy vòng dây chì cũ. Ngoài kia là bến. Mặt đầm Vũng Mây lúc năm giờ sáng màu chì, phẳng, phía đông có một dải hồng mỏng như ai rạch bằng dao lam. Mấy chục cái bè lô nhô ở bãi Rạng, đèn bão leo lét trên chòi canh. Tiếng máy đuôi tôm nổ lạch xạch đâu đó, rồi tắt.

Cậu đứng giữa sân hít mùi bùn đầm, mùi rong, mùi muối. Mùi này cậu đã cố không nhớ. Từ sau đám tang má, cậu chưa một lần về lại Vũng Mây, kể cả những đêm giỗ ba.

– Nội ơi, – có tiếng con nít trong nhà, – anh Hai đứng ngoài sân khóc kìa.

Dềnh quẹt mặt. Ướt thật.

Con Sò ló ra cửa, mười hai tuổi, tóc cắt ngắn ngang tai, mặc cái áo thun in hình con cá heo đã giãn cổ. Nó cầm cây bút lông xanh, miệng ngậm nắp bút. Hồi nhỏ con nhỏ có thói vẽ cá lên mọi thứ: vở, vách, phao xốp, bắp chân anh Hai lúc anh ngủ trưa.

– Anh Hai mơ thấy ma hả? – nó hỏi.

– Ừ, – cậu nói. – Mơ thấy ma.

– Ma gì?

Cậu ngồi xuống cho ngang tầm nó, nhìn khuôn mặt tròn lấm tấm tàn nhang. Mười sáu năm sau, khuôn mặt này sẽ gầy rộc, hai gò má sạm nắng xưởng, và nó sẽ nói với cậu qua điện thoại: "Anh Hai đi luôn đi, khỏi về."

– Ma Sài Gòn, – cậu nói.

Con Sò phì cười, phun cái nắp bút ra, chạy vô.

Má đạp xe đi chợ. Nồi nước lèo bốc khói trên baga, cái thúng bánh canh cắt sẵn đậy lá chuối treo ở ghi-đông. Má đạp một quãng thì dừng lại, chống chân xuống, thở. Dềnh đứng ở cổng thấy hết. Má thở chừng hai ba hơi, tay đặt lên ngực, rồi đạp tiếp, như chuyện thường. Hồi đó cậu cũng thấy vậy, sáng nào cũng thấy, mà không bao giờ hỏi.

Cậu quay vô nhà. Nội ngồi trên bộ ván gỗ gõ ở gian giữa, lưng còng, nhai trầu, con mắt trái mờ đục như vỏ ốc, con mắt phải còn tinh. Nội bảy mươi tám tuổi. Theo trí nhớ của Dềnh, nội sẽ còn sống thêm hai năm, rồi một buổi trưa tháng Sáu, nằm võng ngủ và không dậy.

– Nội, – cậu nói.

– Ơi.

– Nay nội khỏe hông?

Nội nheo con mắt phải nhìn cậu, như nhìn một con cá lạ mắc lưới.

– Thằng này. Bữa nay ăn trúng gì mà hỏi thăm nội?

Dềnh cười, không biết trả lời sao. Cậu ngồi xuống mép ván, sát bên nội, ngửi mùi dầu gió và mùi trầu. Nội không hỏi gì thêm, chỉ đưa bàn tay khô như lá chuối khô lên xoa xoa đầu cậu, cái kiểu xoa đầu một đứa con nít.

Ngoài bến có tiếng ba:

– Dềnh! Ra đây ba biểu!

Cậu đứng dậy. Đầu gối run.

Ba đứng ở cái bến nhỏ sau nhà, nơi mấy tấm ván kê trên cọc dừa đâm ra mặt đầm. Chiếc ghe nan nhỏ buộc ở cọc, máy đuôi tôm gác nghiêng. Ba mặc cái áo sơ mi bộ đội cũ phai màu, ống quần xăn tới gối, chân trần. Ba bốn mươi sáu tuổi, người nhỏ, đen, hai bắp chân chằng chịt gân xanh của người cả đời đứng trên ván ướt. Ba đang cầm một cuộn băng keo điện màu đỏ, quấn thêm một vòng quanh đầu cây đèn pin.

Cây đèn pin ba pin vỏ nhôm. Đầu đèn quấn băng keo đỏ. Màu đỏ còn tươi, còn bóng, chưa bạc thành hồng.

Dềnh đứng sững ở đầu bến.

– Đứng đó ngó cái gì? – ba nói, không ngẩng lên. – Lại đây phụ ba cột cái thùng mồi.

Ba cắn đứt sợi băng keo bằng răng, vuốt cho phẳng, rồi bấm thử đèn. Ánh sáng trắng ngả vàng rọi xuống mặt nước sát chân cọc. Một bầy cá đối con giật mình búng tung tóe.

– Hồi hôm cái đèn chập chờn, – ba nói, nửa như nói với cậu, nửa như nói với cây đèn. – Tao quấn lại cái đầu. Đỏ đỏ vậy, ngoài bè tối ngó cũng thấy.

Dềnh không nói được tiếng nào. Cậu bước xuống tấm ván, cúi xuống cột cái thùng xốp đựng cá mồi vào khoang ghe. Tay cậu run, nút dây thắt hai lần mới được. Thứ mùi cá mồi ươn quen thuộc xộc lên. Cậu thắt nút ghe bằng kiểu nút ba chỉ, kiểu nút mà một ông chủ bè ở Cam Ranh đã dạy cậu năm hai mươi tuổi.

Ba liếc xuống cái nút, nhíu mày.

– Mầy học cột kiểu đó ở đâu?

– Dạ... con coi người ta cột.

Ba không hỏi thêm. Ba bước xuống ghe, giật dây máy. Máy khục khặc hai lần, không nổ. Ba chửi thề một tiếng nhỏ, giật lần thứ ba, máy nổ, khói xanh phụt ra, mùi xăng nhớt lẫn vào mùi đầm.

– Mà nè, – ba nói, giọng to lên cho át tiếng máy. – Ăn sáng lẹ rồi đi học. Chiều về ở nhà coi nhà. Mai ba qua bà Sáu ký giấy lấy thêm lồng, đi từ sớm.

Dềnh đang ngồi xổm trên tấm ván, nghe câu đó thì đứng dậy, chậm như người già.

Mai. Chủ Nhật, mười một tháng Ba.

Cậu nhớ ngày đó. Cậu nhớ nó vì nhiều năm sau, ngồi ở cái bàn nhựa trong căn nhà thuê xóm trong, má đã lục tờ giấy ấy ra. Tờ giấy ba ký với dì Sáu Ngà, chữ ba nghiêng nghiêng như những cọc tre bị gió đùn. Má đọc từng dòng: tám cái lồng, một ngàn hai trăm con tôm giống, cá mồi chịu tới mùa thu hoạch. Má đọc tới chỗ chữ ký của ba thì dừng, rồi gấp tờ giấy lại, rồi khóc không ra tiếng.

Đó là cái ngày nhà cậu bắt đầu sụp. Bảy tháng sau là đêm bão. Chín tháng sau thì nhà mất.

– Ba, – Dềnh nói.

– Hả?

Tiếng máy đuôi tôm rền rĩ. Ba đứng trong ghe, một tay cầm cần lái, một tay cầm cây đèn quấn keo đỏ, nhìn lên cậu, mặt nhăn vì khói. Phía sau lưng ba, dải hồng trên trời đã loang ra thành màu cam, và mặt đầm bắt đầu có màu.

Dềnh nhìn ba. Cậu đã có mười sáu năm để nghĩ xem nếu được gặp ba lần nữa thì mình sẽ nói gì. Bây giờ cậu không nhớ được một câu nào.

– Ba cho con ra bè với, – cậu nói.

Ba nhíu mày, ngó cậu như ngó một con cá lạ.

– Bữa nay mầy không đi học hả?

– Thứ Bảy, con học chiều.

Ba ngẫm nghĩ một chút, rồi hất cằm.

– Xuống. Ngồi cho vững, té xuống tao không vớt đâu.

Dềnh bước xuống ghe. Chiếc ghe nan chòng chành dưới chân. Cậu ngồi xuống cái băng ngang ở mũi, quay mặt về phía ba. Ba vặn ga. Chiếc ghe rời bến, rẽ một đường nước hình chữ V trên mặt đầm còn ngủ, chạy về phía bãi Rạng, nơi cái bè bốn lồng của nhà cậu đang nằm giữa mấy chục cái bè khác.

Dềnh ngồi đó, nhìn ba, nhìn cây đèn còn sáng trong tay ba dù trời đã gần rạng.

Còn một ngày nữa. Một ngày để ba không đặt bút ký tờ giấy đó.

— Hết chương 1 —

Mục lục Năm mười tám tuổi, con về giữ bè cho ba

  1. 1Đèn còn sáng dưới đáy sông10 phút
  2. 2Bè tôm lúc rạng đông10 phút đọc
  3. 3Nội coi ráng10 phút đọc
  4. 4Tờ giấy tính tiền ở nhà dì Sáu10 phút đọc
  5. 5Chòi máy của chú Út10 phút đọc
  6. 6Ba triệu của chú Mười10 phút đọc
  7. 7Mâm giỗ ông nội10 phút đọc
  8. 8Tờ siêu âm trong túi áo cũ10 phút đọc
  9. 9Cái quan trọng nhất10 phút đọc
  10. 10Nồi nước lèo nguội9 phút đọc
  11. 11Hai bí mật trên một chuyến xe10 phút đọc
  12. 12Tiệm cầm đồ Ba Rô10 phút đọc
  13. 13Đêm rằm dời lồng10 phút đọc
  14. 14Vết rạch thẳng10 phút đọc
  15. 15Chuyến xe đêm vô Sài Gòn10 phút đọc
  16. 16Sáu trăm con tôm rẻ10 phút đọc
  17. 17Giấy báo nhập học9 phút đọc
  18. 18Bè mười bốn lồng ở bãi Rạng10 phút đọc
  19. 19Người bạn nối khố12 phút đọc
  20. 20Hai ông già trên bến11 phút đọc
  21. 21Dịch về đầm10 phút đọc
  22. 22Cá mồi ươn10 phút đọc
  23. 23Rằm tháng Tám10 phút đọc
  24. 24Tờ giấy của chú Út10 phút đọc
  25. 25Nội nói gió10 phút đọc
  26. 26Bán sớm10 phút đọc
  27. 27Chiều mười sáu10 phút đọc
  28. 28Cuộc gọi lúc chín giờ9 phút đọc
  29. 29Ánh đèn trên dây neo10 phút đọc
  30. 30Sáng mười bảy10 phút đọc
  31. 31Hai món nợ một lần9 phút đọc
  32. 32Bệnh viện ở Sài Gòn10 phút đọc
  33. 33Rằm tháng Mười10 phút đọc
  34. 34Ngoài phòng mổ9 phút đọc
  35. 35Tôm Tết10 phút đọc
  36. 36Đèn pin quấn keo đỏ9 phút đọc

Về truyện này

Năm mười tám tuổi, con về giữ bè cho ba là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →