AI Truyện
Năm mười tám tuổi, con về giữ bè cho ba

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Bè tôm lúc rạng đông

Năm mười tám tuổi, con về giữ bè cho ba · Chương 2/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Bè tôm lúc rạng đông

Cái bè nhà Dềnh nằm ở rìa ngoài bãi Rạng, kẹp giữa bè ông Mười Hảo to gấp ba và bè nhà bà góa Tư Chè lụp xụp mấy tấm tôn rỉ. Bốn ô lồng, mỗi ô vuông chừng ba thước, khung gỗ dầu đã đen, kết trên mười sáu cái phuy nhựa xanh. Giữa bè có cái chòi canh lợp lá, đủ cho một người nằm co.

Ba tắt máy cho ghe trôi vô sát bè, quăng dây, nhảy lên ván. Dềnh nhảy theo, chân tìm chỗ đứng trên cây đà ướt nhanh hơn cậu tưởng. Mười sáu năm, mà gót chân vẫn nhớ cái chòng chành ấy.

– Xách thùng mồi lên, – ba nói. – Lồng một trước.

Cá mồi trong thùng xốp là cá liệt, cá cơm vụn, mấy con cá nục bể bụng, ướp đá từ hôm qua, mùi đã hơi nặng. Dềnh cầm con dao phay, ngồi xổm trên tấm thớt gỗ kê ở góc bè, băm cá. Ba mở nắp lồng một, cúi xuống rọi đèn.

Dưới làn nước màu trà đặc, mấy chục cái râu dài đỏ cam ngoe nguẩy trong mấy khúc ống nhựa ba thả làm chỗ cho tôm trốn. Tôm hùm bông, thả hồi tháng Mười âm năm ngoái, giờ con nào cũng cỡ bàn tay, vỏ có vằn xanh vàng như ai vẽ. Ba ngó chúng như ngó con.

– Năm nay mà được giá, – ba nói, không quay đầu lại, – Tết sau nhà mình sửa lại cái mái.

Dềnh băm cá, không đáp. Tết sau, cái mái đó đã thuộc về người khác.

Cậu biết rõ những con tôm này. Kiếp trước, khoảng đầu tháng Tám âm, chúng sẽ bắt đầu bỏ ăn. Đầu tiên là vài con ở lồng ba, nằm ngửa trong ống nhựa, bụng trắng đục như ai bơm sữa vào. Rồi lồng hai. Rồi bãi Rạng có mùi. Hồi đó cậu đang ngồi trong giảng đường ở Sài Gòn, nghe má kể qua điện thoại, giọng má cố làm như chuyện nhỏ. Mãi tới năm hai mươi tuổi, đi làm thuê cho một bè tôm ở Cam Ranh, ngồi nghe ông chủ bè giảng giải, cậu mới hiểu cái bệnh sữa ấy không từ trên trời rơi xuống. Nó tới từ nước tù, từ lồng dày, từ cá mồi ươn, từ mấy chục cái bè chen chúc nhau xả chất thải xuống một vùng nước không có đường chảy ra biển.

Bãi Rạng là đúng như vậy. Đẹp, kín gió, gần bến, và chết.

Cậu nhìn quanh. Mấy chục cái bè san sát. Bè ông Mười mười bốn lồng, có máy bơm, có chòi gạch. Bè bà Tư Chè hai lồng lưới vá chằng vá đụp. Nước dưới chân màu trà, lững lờ, mấy cọng rong rã trôi qua không đi đâu.

Ba ném nắm cá đầu tiên xuống. Mặt nước sủi lên, mấy con tôm lao ra khỏi ống, giành mồi.

– Ba, – Dềnh nói, – con hỏi cái này.

– Hỏi.

– Mai ba lấy thêm tám lồng nữa, ba tính thả ở đâu?

Ba nhìn cậu, nhíu mày. Dềnh biết mình vừa hớ: chuyện tám lồng ba chưa từng nói ra trước mặt con. Nhưng ba không để ý tới con số, ba chỉ để ý tới cái giọng.

– Thì thả đây chớ đâu. Kết thêm ra phía bè bà Tư.

– Thả vô đây thì dày quá ba. Nước ở đây không chảy. Lồng dày, cá mồi thừa rớt xuống đáy thối, tới mùa nắng tôm dễ bệnh lắm.

Ba bật cười, một tiếng cười ngắn, khô.

– Mầy học trong sách hả?

– Dạ... con đọc báo.

– Báo, – ba lặp lại, rồi quăng thêm nắm cá. – Tao nuôi tôm năm năm, đi biển hai chục năm. Báo nó biết cái đầm này bằng tao hả?

Dềnh im. Cậu biết cái giọng ấy. Ba không cãi lý, ba chỉ đóng cửa lại. Mười tám tuổi, kiếp trước cậu sẽ hậm hực bỏ lên chòi. Ba mươi bốn tuổi, cậu ngồi xuống băm tiếp nắm cá, nghĩ.

Cậu không thể nói với ba rằng con đã sống tới năm hai ngàn hai mươi lăm. Ba sẽ nghĩ cậu sốt. Má sẽ đem cậu lên chùa. Mà kể cả họ tin, rồi sao? Cậu biết cái gì? Cậu biết đêm mười sáu tháng Chín năm nay có bão. Cậu biết đầu tháng Tám âm tôm ở bãi Rạng sẽ bệnh. Cậu biết ba sẽ ký tờ giấy với dì Sáu vào sáng mai. Cậu biết nhà sẽ mất vào tháng Giêng, nội mất năm hai ngàn mười một, má mất mùng Một Tết năm Giáp Ngọ.

Còn lại thì cậu không biết gì nhiều. Cậu không nhớ số xổ số nào trúng. Cậu không nhớ giá vàng tháng nào lên tháng nào xuống. Kiếp trước, năm mười tám tuổi, cậu chỉ là một thằng học trò ngồi chờ đi Sài Gòn, cắm mặt vô sách, không để ý chuyện của người lớn. Những gì cậu biết về cái năm này phần lớn là nghe kể lại sau đám tang ba: từ má, từ bà con, từ những câu nói bỏ lửng ở bàn nhậu.

Và có một câu cậu nhớ mãi mà không hiểu. Năm hai ngàn hai mươi ba, ở bến xe Miền Đông, cậu đụng chú Út Lành, người đã biến mất khỏi Vũng Mây sau đám tang ba bốn mươi chín ngày. Chú gầy như que củi, mắt đỏ, hơi rượu nồng. Chú nắm tay cậu, lắc lắc, rồi nói một câu, nhỏ tới mức cậu tưởng mình nghe lầm: "Đêm đó ba mầy đâu có ra coi lồng của ổng." Rồi chú buông tay, lách vào đám đông, biến mất. Cậu đuổi theo tới cổng bến xe thì không thấy nữa.

Câu đó cậu nghĩ hoài về sau, mà không biết "ổng" là ai.

– Lồng hai, – ba nói.

Họ cho ăn hết bốn lồng. Ba kiểm lưới, lặn xuống một lần coi dây neo, ngoi lên vuốt mặt, nói "được". Mặt trời lên khỏi rặng núi phía đông, nắng tháng Ba đổ xuống mặt đầm, chói như gương. Dềnh đứng ở mép bè nhìn ba ngồi vấn điếu thuốc rê bằng giấy quyến, ngón tay ba đen, móng nứt. Cậu muốn đưa tay chạm vào vai ba, coi có thật không. Cậu không dám.

Lúc quay về, máy đuôi tôm tắt ngang giữa đầm.

Ba giật dây. Máy khục khặc. Giật lần nữa. Im. Ba chửi thề, mở nắp bình xăng ngó vô, lắc lắc, đóng lại, giật. Máy ho một tiếng như người già rồi im hẳn. Ghe trôi lừ đừ, mũi xoay dần theo con nước.

– Cái máy này từ tuần rồi nó trở chứng, – ba càu nhàu. – Thằng Lành coi mà coi không ra.

Dềnh bò ra phía đuôi.

– Để con coi thử.

– Mầy biết gì mà coi.

Cậu không đáp. Cậu tháo cái chụp bugi, rút bugi ra bằng cái khóa mười sáu ba để trong hộp đồ. Đầu bugi ướt nhẹp, đen muội. Cậu lau vào vạt áo, nhìn khe đánh lửa, rồi dò theo ống xăng xuống tới cái bầu lọc nhỏ bằng ngón tay cái. Trong bầu lọc có một lớp nước đọng dưới đáy, xăng nổi bên trên, ranh giới rõ như kẻ chỉ.

– Bình xăng có nước, ba, – cậu nói. – Chắc đợt rồi đổ xăng can để ngoài mưa.

Ba im. Dềnh tháo bầu lọc, đổ nước ra mạn ghe, lắc cho sạch, lắp lại. Cậu mở vít xả ở đáy bình bộ chế hòa khí, cho xăng chảy ra một chút cuốn theo mấy giọt nước, vặn lại. Bugi cậu thổi khô, lắp vô, siết vừa tay. Toàn bộ chừng năm phút. Cậu làm mà không cần nghĩ. Mười năm làm thợ máy dưới tàu, hai năm trước đó sửa máy ghe cho bè người ta ở Cam Ranh, tay cậu tự biết đường đi của từng con ốc.

– Ba giật thử.

Ba nhìn cậu một hồi, rồi giật dây. Máy nổ ngay phát đầu, tròn tiếng.

Ba không khen. Ba ngồi xuống cầm cần lái, cho ghe chạy về bến. Nhưng suốt quãng đường, Dềnh thấy ba cứ liếc cậu, cái kiểu liếc của người vừa thấy con chó nhà mình đứng hai chân.

– Mầy học sửa máy với thằng Lành hồi nào? – ba hỏi khi ghe gần tới bến.

– Dạ, con coi chú làm.

– Coi mà ra vậy?

– Dạ.

Ba khịt mũi, không biết là tin hay không tin.

Quán cà phê bà Bảy Hến nằm sát chân bến chung, cái quán lợp lá với năm cái bàn gỗ thấp, mười mấy cái ghế đẩu nhựa đỏ. Sáng nào ba cũng ghé đó một ly cà phê đen bốn nghìn sau khi đi bè về. Hôm nay ba cột ghe ở bến nhà rồi đi bộ ra, Dềnh đi theo.

Ông Mười Hảo đã ngồi sẵn ở cái bàn trong góc, chỗ nhìn ra được cả bãi Rạng. Ông to con, bụng phệ, da đỏ au, đeo sợi dây chuyền vàng to bằng cọng đũa, cái áo sơ mi trắng mở hai nút ngực. Ông là bạn nối khố của ba, hai người cùng đi bạn ghe lưới hồi mười lăm tuổi. Rồi ông khá lên trước, có vựa tôm ở bến, có bè lớn nhất bãi Rạng.

– Sấm! – ông Mười giơ tay, giọng sang sảng. – Bữa nay dắt thằng cháu đi bè hả? Ngồi đây, ngồi đây. Bảy ơi, thêm hai ly!

– Một ly thôi, – ba nói, – nó con nít.

– Con nít gì nữa, lớp mười hai rồi. Năm nay thi đại học phải hông con?

Dềnh gật. Ông Mười vỗ đùi.

– Giỏi! Nhà mình mà có đứa học đại học là ba mầy nở mày nở mặt. – Ông móc túi áo, rút ra tờ hai chục nghìn, nhét vào túi áo Dềnh. – Cầm uống nước. Chú Mười cho.

– Dạ con cảm ơn chú.

Dềnh nói câu ấy bằng giọng cảm ơn thật. Kiếp trước, ông Mười là người đứng ra lo đám tang ba, góp tiền, đi mua hòm, dựng rạp. Sau đó ông mua lại căn nhà của má, trả giá cao hơn mấy người khác hỏi, để má có tiền dọn đi. Cả làng khen ông là người có nghĩa. Má cũng khen. Dềnh, mười tám tuổi, đứng chịu tang, đã cúi đầu lạy ông một lạy.

Ở chòi sửa máy sát bên quán, có một người đàn ông nằm ngủ trên cái võng dù, mặt úp một cái nón tai bèo, một chân thò ra ngoài. Cái quần tây cũ dính dầu, chân không dép. Chú Út Lành. Ba mươi bốn tuổi, thợ máy giỏi nhất bến, cũng là người nợ nần nhiều nhất bến. Dềnh nhìn cái võng đung đưa. Mười bốn năm nữa, người đó sẽ gầy như que củi, đứng ở bến xe Miền Đông nói một câu không đầu không đuôi.

– Thằng Lành hồi hôm lại ngồi sòng tới sáng, – ông Mười nói nhỏ, hất cằm về phía chòi. – Tui nói ông rồi đó Sấm, phải la nó.

– La hoài rồi, – ba nói, giọng chùng xuống. – Nó lớn rồi.

– Lớn mà không khôn.

Ba không nói gì, cúi xuống thổi ly cà phê.

– Mai ông qua bà Sáu ký hả? – ông Mười hỏi.

– Ừ. Tám giờ.

– Có cần tui đi theo làm chứng hông?

– Thôi. Giấy tờ thì có gì đâu. – Ba nhấp một ngụm, rồi nói tiếp, giọng nhỏ lại, như nói một mình. – Cái quan trọng nhất tui đưa bả hồi năm ngoái rồi, bả còn sợ gì.

Dềnh đang cầm ly trà đá, nghe tới đó thì ngẩng lên. Nhưng ông Mười đã cười to, vỗ vai ba, chuyển qua chuyện giá tôm đi Móng Cái tuần này. Câu nói ấy trôi đi, lẫn trong tiếng máy ghe ngoài bến, tiếng bà Bảy Hến rao bánh căn, tiếng ly va vào nhau.

Dềnh nhìn ba. Ba đang cười theo ông Mười, cái cười mệt của người làm ăn chưa bao giờ đủ.

Cái quan trọng nhất là cái gì?

Cậu lục trong trí nhớ, cái trí nhớ ba mươi bốn năm chất chồng, mà không tìm ra. Cậu chỉ biết mai, tám giờ, ở nhà dì Sáu Ngà.

Cậu uống cạn ly trà đá, lạnh tới buốt răng, và quyết định: tối nay cậu sẽ đi gặp dì Sáu trước.

— Hết chương 2 —

Mục lục Năm mười tám tuổi, con về giữ bè cho ba

  1. 1Đèn còn sáng dưới đáy sông10 phút
  2. 2Bè tôm lúc rạng đông10 phút đọc
  3. 3Nội coi ráng10 phút đọc
  4. 4Tờ giấy tính tiền ở nhà dì Sáu10 phút đọc
  5. 5Chòi máy của chú Út10 phút đọc
  6. 6Ba triệu của chú Mười10 phút đọc
  7. 7Mâm giỗ ông nội10 phút đọc
  8. 8Tờ siêu âm trong túi áo cũ10 phút đọc
  9. 9Cái quan trọng nhất10 phút đọc
  10. 10Nồi nước lèo nguội9 phút đọc
  11. 11Hai bí mật trên một chuyến xe10 phút đọc
  12. 12Tiệm cầm đồ Ba Rô10 phút đọc
  13. 13Đêm rằm dời lồng10 phút đọc
  14. 14Vết rạch thẳng10 phút đọc
  15. 15Chuyến xe đêm vô Sài Gòn10 phút đọc
  16. 16Sáu trăm con tôm rẻ10 phút đọc
  17. 17Giấy báo nhập học9 phút đọc
  18. 18Bè mười bốn lồng ở bãi Rạng10 phút đọc
  19. 19Người bạn nối khố12 phút đọc
  20. 20Hai ông già trên bến11 phút đọc
  21. 21Dịch về đầm10 phút đọc
  22. 22Cá mồi ươn10 phút đọc
  23. 23Rằm tháng Tám10 phút đọc
  24. 24Tờ giấy của chú Út10 phút đọc
  25. 25Nội nói gió10 phút đọc
  26. 26Bán sớm10 phút đọc
  27. 27Chiều mười sáu10 phút đọc
  28. 28Cuộc gọi lúc chín giờ9 phút đọc
  29. 29Ánh đèn trên dây neo10 phút đọc
  30. 30Sáng mười bảy10 phút đọc
  31. 31Hai món nợ một lần9 phút đọc
  32. 32Bệnh viện ở Sài Gòn10 phút đọc
  33. 33Rằm tháng Mười10 phút đọc
  34. 34Ngoài phòng mổ9 phút đọc
  35. 35Tôm Tết10 phút đọc
  36. 36Đèn pin quấn keo đỏ9 phút đọc

Về truyện này

Năm mười tám tuổi, con về giữ bè cho ba là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →