Chương 1: Tiếng giã gạo lúc nửa đêm
Cốc nước đầu giường Đòng gợn lên ba vòng tròn, lặng đi, rồi lại gợn.
Cô nằm im, mắt mở trong bóng tối, đếm. Một. Hai. Ba. Nghỉ. Dưới tấm nệm, dưới sàn nhựa, dưới lớp màng kín áp và hai mươi mét đá đen, có cái gì đó vừa nện xuống ba lần, cách nhau đều như người ta gõ cửa. Cái cốc nhựa lại đứng yên, mặt nước phẳng lì phản chiếu đốm đèn xanh của ổ điện.
– Mõ, – cô gọi khẽ, sợ đánh thức bố ở buồng bên.
Cái loa tròn trên trần sáng lên một vệt vàng nhạt.
– Mõ xin báo: lúc hai giờ mười một phút giờ làng, ba máy đo địa chấn ghi được một chuỗi ba chấn động nhỏ, cường độ rất thấp. Đây là chuỗi thứ tư trong đêm nay. Khoảng cách giữa các chuỗi chừng mười một phút. Mõ chưa xác định được nguồn.
– Chưa xác định được là sao?
– Quanh làng, Mõ chỉ có ba máy đo địa chấn. Ba điểm thì biết được có chấn động, nhưng chưa đủ để biết chính xác nó ở đâu và sâu bao nhiêu. Cô Đòng có muốn Mõ báo cho trực ban không?
Đòng ngồi dậy, kéo cái áo len cũ của mẹ khoác lên vai. Cái áo đã ngắn tay từ lâu, vì người sinh ra trên sao Hoả lớn lên cứ dài ra như cây lúa trổ, mà cô thì hai mươi mốt tuổi đã cao hơn bố một cái đầu.
– Thôi. Để cháu ra xem đã.
Cửa nhà cô mở ra hành lang lát lưới thép, dãy nhà ở số ba, bám vào vách đá phía tây của Hang Cái. Đêm trong hang không bao giờ tối hẳn. Trên trần, những dải đèn mà người làng gọi là trời giả đã hạ xuống mức đêm, chỉ còn một màu lam thẫm như trời quê lúc gần sáng. Ông nội bảo cái màu ấy giống hệt trời Bình Châu hôm đi chợ sớm. Đòng chưa từng thấy trời Bình Châu. Cô chỉ biết cái màu ấy là do ông chọn, hai mươi ba năm trước, khi ông và ba mươi chín người khác đặt chân xuống bình nguyên này rồi chui vào một ống dung nham cổ để trồng lúa.
Không khí ấm và ẩm. Mùi bùn, mùi phân vịt, và một mùi ngòn ngọt như nước cơm, mùi của chín bậc ruộng đang ngậm sữa. Vụ này cấy giữa tháng Mười, còn hơn một tháng nữa là gặt, kịp có gạo mới gói bánh chưng. Tiếng quạt thông gió ù ù ở cuối hang. Tiếng nước chảy róc rách trong con mương bê tông chạy dọc bờ ruộng, từ bậc Chín cao nhất gần Cửa Đình, vòng vèo xuống tận bậc Một ở cuối nam.
Đòng đi xuống. Cô thuộc từng bậc đá kê, từng cái cống nhỏ chặn nước, vì ba năm nay cô là người giữ nước cho làng. Kỹ sư nước, trên giấy tờ của Ban Điều phối ghi vậy. Người làng thì gọi cô là "con bé coi mương".
Gần bậc Năm, dưới chân cô lại nện ba cái. Thịch. Thịch. Thịch. Rồi nghỉ.
Lần này cô cảm thấy rõ qua đế dép. Mặt nước trong mương rung thành những gợn vảy cá li ti, chạy ngược dòng một quãng rồi tan. Trên ruộng, lũ vịt đang ngủ thành từng đống trên bờ bỗng nhổm cả dậy, kêu quàng quạc, lạch bạch kéo nhau leo lên bậc trên.
Ở bậc Một có người đã ngồi sẵn.
Ông nội cô ngồi trên cái ghế nhựa thấp, lưng còng, hai chân dạng ra, cái gậy dựa vào bờ ruộng. Ngang trên đùi ông là một khúc gỗ đen bóng dài hơn một cánh tay, hai đầu to, giữa thắt lại. Cái chày lim. Thứ gỗ duy nhất trên cả hành tinh này không mọc ra từ hạt giống mang theo, mà được chở nguyên khúc qua hàng trăm triệu cây số chân không, vì ông nhất định không chịu để nó lại.
– Con bé cũng nghe à, – ông nói, không quay đầu.
– Ông ra đây từ bao giờ?
– Từ cái thứ hai. Ông không ngủ được. – Ông vỗ vỗ lên khúc gỗ. – Nghe nó có quen không?
Đòng ngồi xổm xuống cạnh ông. Tóc ông bạc trắng, cắt ngắn, sau gáy có một vết sẹo nhỏ từ hồi mổ ba năm trước. Từ ngày bị đột quỵ, tay trái ông yếu hẳn, cầm đũa phải đổi sang tay phải, nhưng hai bàn tay ông vẫn ôm lấy cái chày như ôm một đứa trẻ.
– Quen gì ạ?
– Giã gạo. Giã đôi. – Ông nheo mắt nhìn xuống mặt ruộng. – Hồi ông bằng thằng Mít, cứ gần Tết là bà cố với bà trẻ đứng hai bên cái cối đá ở sân. Hai cái chày, một người nện, người kia nhấc. So le nhau. Thình, thình, thình, rồi hai bà cùng dừng tay một nhịp để vun gạo vào giữa cối. Thình, thình, thình, nghỉ. Ông nằm trong nhà nghe, biết ngay là sắp có bánh.
Thịch. Thịch. Thịch. Dưới đất lại nện. Đòng đặt lòng bàn tay lên bờ đất. Nó lạnh hơn cô tưởng.
– Nó cũng đúng ba nhịp nghỉ một, – cô nói.
– Ừ. – Ông gật. – Mà con có biết giã đôi không?
– Cháu đâu có biết. Cháu có thấy cái cối nào đâu.
Ông cười, cái cười móm vì đêm ông tháo hàm giả ra ngâm. Ông nhấc cái chày bằng tay phải, chống một đầu xuống bờ đất mềm, gõ nhẹ. Bộp. Bộp. Bộp. Dừng.
– Con lấy cái cọc kia. Ông nện thì con nhấc. Ông nhấc thì con nện. Không phải cùng lúc, mà vào sau ông nửa nhịp. Như hai người bước đi mà không giẫm chân nhau.
Đòng nhặt cái cọc tre nhựa cắm đánh dấu mực nước. Lần đầu cô gõ trùng nhịp ông, nghe như một tiếng. Lần thứ hai cô vội quá, đè lên nhịp nghỉ. Ông lắc đầu, không nói gì, gõ lại từ đầu. Đến lần thứ năm thì nó ra. Bộp, cạch. Bộp, cạch. Bộp, cạch. Dừng. Hai tiếng xen nhau, đều đều, như một cái máy cũ biết thở.
– Đấy. – Ông đặt chày lên đùi. – Giã đôi là thế. Một người không giã đôi được. Phải có người thứ hai biết mình định nện lúc nào.
Lũ vịt ở bậc trên đã thôi kêu, nhưng không con nào chịu xuống lại. Ông nội chu miệng gọi "bập bập, bập bập", cái tiếng ông vẫn gọi vịt về chuồng mỗi tối. Mấy con vịt trống quay đầu nhìn ông, rồi lại rúc mỏ vào cánh, nhất định ở trên ấy.
– Chúng nó biết, – ông lẩm bẩm.
Cái cột loa đầu bậc Một sáng lên.
– Mõ xin báo: chuỗi chấn động thứ năm lúc hai giờ hai mươi hai phút. Cường độ tương đương chuỗi trước. Thưa cụ Thiệp, thưa cô Đòng, Mõ đề nghị không ai ở lâu trong khu vực bậc Một khi chưa rõ nguyên nhân.
– Mõ, – Đòng hỏi, – chuyện này bắt đầu từ bao giờ?
– Chấn động đầu tiên Mõ ghi được là ngày hai mươi tám tháng Mười một, khoảng năm tuần trước. Khi ấy rất yếu, người không cảm nhận được, khoảng bốn mươi phút một lần. Mõ đã xếp vào loại tiếng ồn địa chất thông thường. Từ đêm nay cường độ đủ để người nghe thấy, nên Mõ báo.
– Năm tuần mà Mõ không nói với ai?
– Mõ có ghi vào bản tin địa chất hằng tuần. Bản tin ấy gửi tới kỹ sư trưởng và trưởng làng. Ngoài hai người đó, chưa ai hỏi.
Ông nội không nói gì. Ông nhìn về phía cuối hang, nơi vách đá cong xuống thành một cái mõm tối. Sau đó là lớp màng kín áp căng như da trống, rồi đến đá, rồi đến cát, rồi đến bình nguyên âm tám chục độ đang chìm trong đêm. Đi tiếp về phía ấy hai cây số rưỡi là Giếng Băng, mỏ băng của làng, nơi bố cô làm từ khi cô còn chưa biết đi.
Đòng nhìn theo ông, rồi nhìn ông.
– Ông nghĩ là cái gì?
– Ông là thằng trồng lúa, – ông nói. – Ông biết gì về đá.
Câu ấy ông nói chậm, từng tiếng, như người đặt từng hòn gạch. Đòng biết ông. Mỗi lần ông bảo "ông biết gì", là lúc ông biết.
Cô định hỏi tiếp thì trời giả trên đầu khẽ chớp. Không phải hỏng. Một dải sáng trắng mỏng như sợi chỉ hiện ra ở phía Cửa Đình, rồi bò dần xuống giữa màu lam. Mặt trời thật ngoài kia còn mấy tiếng nữa mới mọc, những tấm gương trên Đồng Gương vẫn đang úp mặt chờ. Nhưng lúa đang ngậm sữa cần mười bốn tiếng sáng mỗi ngày, mà ở vĩ độ bốn mươi tư bắc này, cuối thu sang đông, ngày ngắn lắm. Thế nên trời giả phải dậy trước, đèn chạy bằng điện của lò Ông Táo, rồi khi nắng thật lên thì ống dẫn sáng mở van đỡ cho đèn. Hơn hai mươi năm nay, trong cái hang này, chưa đêm nào thật sự là đêm.
– Ông về ngủ đi, – Đòng nói. – Mai còn họp.
– Ai bảo mai họp?
– Cháu bảo. Cháu sẽ xin họp.
Ông chống gậy đứng dậy, chậm, khớp gối kêu lục cục. Cái chày lim ông kẹp dưới nách bên phải. Đi được mấy bước, ông dừng lại, không quay đầu.
– Con bé. Có muốn họp thì đi xem cho kỹ đã rồi hẵng mở mồm. Người ta tin cái con nhìn thấy, không tin cái con sợ.
Ông đi lên. Cái dáng lom khom của ông nhỏ dần giữa những bờ ruộng, qua bậc Hai, bậc Ba, mất hút sau cái chuồng vịt ở bậc Bốn.
Đòng ở lại một mình với tiếng quạt và tiếng nước.
Cô đi dọc bờ bậc Một. Đây là thửa ruộng thấp nhất, sát vách nam, rộng chừng ba sào, cũng là thửa cô thương nhất, vì năm mười hai tuổi cô đã cùng ông san từng xẻng đất ở đây. Đất sao Hoả không trồng được gì khi chưa rửa. Nó đỏ và mịn như bột ớt, và chứa một thứ muối tên là perchlorate, độc với rễ cây và độc với người. Phải rửa, phải ngâm, phải trộn rơm mục với phân vịt suốt ba vụ thì đất mới thành đất. Bậc Một là bậc cuối cùng được khai, nên cũng là bậc mà đất còn non nhất.
Lúa ở đây vẫn xanh. Bông đã cong xuống, hạt căng, sờ vào thấy sữa còn lỏng. Giống Hoả Mễ bảy, ông nội cô lai từ hạt lúa tám thơm mang lên năm năm hai. Thân thấp chỉ đến đầu gối để khỏi đổ trong trọng lực yếu, lá dày để chịu được không khí đặc khí các-bon. Mỗi vụ, cả làng ba trăm mười hai người trông vào chín bậc ruộng này, cộng với kho gạo dự trữ đủ ăn hơn một năm. Đó là một con số Đòng thuộc như thuộc tên mình.
Ở góc đông nam của thửa ruộng, chỗ con mương rẽ vào cống xả, đèn đeo trán của cô quét qua một thứ không nên có.
Quanh gốc một khóm lúa, sát mặt bùn, có một vòng trắng. Mỏng, xốp, lấm tấm như đường bột rắc lên bánh. Cô cúi thấp hơn. Khóm bên cạnh cũng có. Rồi khóm bên cạnh nữa. Những vòng trắng nối vào nhau thành một vệt cong, chạy chéo qua mặt ruộng như vết phấn ai vạch, từ chân vách nam ra phía mương. Lá lúa ở những khóm có vòng trắng chưa vàng, nhưng mép lá đã cong lại, khô như bị nắng.
Đòng quỳ xuống bờ mương, vục hai ngón tay vào nước, đưa lên môi.
Mặn. Mặn chát, rồi đắng ở cuống lưỡi, cái đắng kim loại mà cô chỉ nếm thấy một lần trong đời, năm mười hai tuổi, khi lỡ liếm ngón tay lúc rửa đất chưa sạch. Ông nội đã tát cô một cái nhẹ vào tay hôm ấy, và đó là lần duy nhất ông đánh cô.
Nước trong mương làng Hương Hoả là nước băng. Nó được khoan lên từ một tảng băng chôn dưới đất hàng triệu năm, nấu chảy, lọc ba lần, rồi mới chảy xuống ruộng. Nó nhạt như nước mưa. Ít ra người ta bảo cô thế, vì cô chưa nếm nước mưa bao giờ.
Nước băng thì không bao giờ mặn.
Dưới đầu gối cô, đất lại nện ba lần. Thịch. Thịch. Thịch. Và trong cái nhịp nghỉ ngay sau đó, Đòng nghe thấy một tiếng rất khẽ từ chỗ vệt trắng, như tiếng ai thở ra qua kẽ răng.
— Hết chương 1 —
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe