AI Truyện
Làng lúa dưới hoàng hôn xanh

🚀 Khoa học viễn tưởng

Đứa trẻ đếm nhịp

Làng lúa dưới hoàng hôn xanh · Chương 12/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 12: Đứa trẻ đếm nhịp

Tờ giấy dán trên vách đầu giường thằng Mít có một trăm bốn mươi bảy con cá.

Đòng đếm. Nó ngồi bên cạnh, hai tay ôm đầu gối, nhìn cô đếm bằng cái vẻ nghiêm trọng của đứa trẻ đang được người lớn xem bài. Tờ giấy là giấy gói hàng tái chế, màu nâu, to bằng nửa cái chiếu, dán bốn góc bằng băng dính. Những con cá vẽ bằng bút sáp màu cam, con nào cũng chỉ là một hình bầu dục với cái đuôi chẻ đôi và một chấm mắt. Bên cạnh mỗi con, nó ghi giờ bằng nét chữ to, ngoằn ngoèo, cột trái là giờ làng, cột phải là giờ Kinh Lạc, như cái đồng hồ đôi ở đình.

– Sao lại là cá? – cô hỏi.

– Vì nó quẫy, – thằng Mít đáp, như thể ai cũng phải biết. – Chị không thấy à? Thịch thịch thịch là nó quẫy đuôi ba cái. Như con cá chép trong bể nhà cô Ba lúc cô Ba bắt nó ấy.

Con cá đầu tiên ghi đêm hai tháng Một, hai giờ mười một phút. Đúng cái chuỗi nện đã làm Đòng tỉnh dậy vì cốc nước gợn. Từ đó trở đi, đêm nào cũng có cá. Lúc đầu thưa, sau dày dần. Có những đêm nó ghi được mười mấy con trước khi ngủ gục. Có những đêm chỉ ghi được ba con.

Nhưng không chỉ có cá. Lẫn giữa những con cá cam, ở vài chỗ, có những hình khác vẽ bằng bút sáp đen. Một cái hình như chiếc ủng, mũi quay sang phải. Rồi vài con cá sau, một cái ủng nữa, mũi quay sang trái.

– Cái này là gì?

– Bố em đi. – Thằng Mít chỉ vào cái ủng quay phải. – Còn đây là bố em về. – Nó chỉ cái quay trái. – Em vẽ để biết bố đi bao lâu. Bố đi lâu lắm. Có đêm em ngủ rồi mà bố vẫn chưa về.

Đòng nhìn dãy ủng đen. Đêm năm. Đêm sáu. Đêm bảy. Đêm tám có ủng đi lúc mười giờ, ủng về lúc hai giờ sáng. Đêm chín không có ủng nào, chỉ có mấy con cá rồi hết, nét bút nguệch ngoạc như vẽ trong lúc buồn ngủ.

– Đêm chín bố có đi không?

– Em không biết. Em ngủ sớm. Hôm ấy em ốm. – Thằng Mít gãi đầu. – Nhưng sáng ra ủng bố vẫn ướt.

– Bố đi đâu, em biết không?

– Bố bảo bố đi gõ cửa đất.

Đòng quay sang nó.

– Gõ cửa đất là sao?

– Em hỏi thì bố bảo thế. Bố bảo đất đang thức, bố đi gõ cửa cho đất ngủ. – Nó nói rất thật, không có vẻ gì là đùa. – Bố về thì ủng có băng. Băng dính vào đế ủng, trắng trắng, em lấy tay cạy ra được. Có lần em liếm thử. Mặn lắm.

Đòng không nói gì một lúc lâu. Ngoài cửa sổ nhà chú Nghiệp, trời giả mờ vàng như chiều, dù đồng hồ chỉ mới mười giờ sáng. Trên trần, dải đèn chạy ngang qua bậc Bảy đã tắt hẳn để dồn điện cho những bậc khác.

Băng chỉ có ở một chỗ quanh làng. Băng mặn thì chỉ có ở một chỗ trong cái chỗ ấy.

– Mít, – cô nói, – chị chụp tờ giấy này được không?

– Được. Chị đừng nói với bố là em liếm băng nhé. Bố mắng.

– Chị không nói.

Cô chụp. Một trăm bốn mươi bảy con cá và mười hai cái ủng đen. Rồi cô ra về. Cô không biết mình đang cầm thứ gì trong cái bảng tay. Một bằng chứng, hay chỉ là trí nhớ của một đứa trẻ chín tuổi đang lo bố mình đi đêm.

Hai mươi phút sau, cô ngồi trong nhà Mõ với anh Khiêm và bà Nhàn.

Đó là cách mà anh Khiêm giữ lời. Tối qua, khi biết ông nội lên cơn sốt, anh đã ngồi một mình ở hiên đình rất lâu. Rồi anh tìm đến Đòng, bảo: "Tôi hứa với ôn là tối mười ba, ôn không nói thì tôi nói. Ôn không nói được, không phải không nói. Tôi sẽ không nói với hội đồng. Nhưng tôi phải nói với trưởng làng. Bà Nhàn có quyền biết, và tôi không thể để chỉ ba người giữ chuyện ni." Đòng đã không cãi.

Bà Nhàn xem hết ảnh chụp đêm ở hầm Bốn. Bà xem từng tấm, phóng to, thu nhỏ. Bức tường băng cắt bằng máy. Cái khối trượt như ngăn kéo. Cái lỗ khoan với nút băng bị khoan thủng. Cột nước muối dâng ba lần. Những vành băng vỡ nham nhở. Mảnh mũi khoan X-07. Rồi tấm ảnh cuối cùng, chụp vội lúc đi ra: ông nội Đòng ngồi trong ngách băng, cái mũ số 01, cây gậy dựng bên cạnh.

Bà ngồi im rất lâu sau khi tắt màn hình.

– Ông Thiệp khoan cái lỗ ấy, – bà nói. Không phải hỏi.

– Năm sáu mốt, – Đòng đáp. – Nhưng người mở cái nút không phải ông. Ông xuống đấy để đợi xem ai mở.

– Làm sao cháu biết?

– Cháu biết ông.

Bà Nhàn nhìn cô. Cái nhìn của bà không ác, nhưng nặng.

– Bà cũng biết ông. Bà biết ông hai mươi ba năm. Ông là người bà kính nhất cái làng này. – Bà gõ gõ ngón tay lên mép bàn. – Nhưng ông giấu một cái lỗ khoan suốt mười bốn năm, sơn chữ lên cửa bảo là túi khí, và cái lỗ ấy bây giờ đang làm chết ruộng của làng. Cháu bảo bà phải biết cái gì nữa?

Đòng không trả lời được.

– Còn mảnh mũi khoan, – anh Khiêm nói, nhẹ nhàng đặt câu chuyện sang chỗ khác. – X-07. Sổ xưởng ghi chi?

Bà Nhàn gọi Mõ mở sổ xưởng. Sổ xưởng của làng là một cái bảng dài, mỗi dòng một dụng cụ, ghi ai mượn, mượn lúc nào, trả lúc nào. Mũi khoan X-07 là loại mũi khoan lõi băng đường kính mười phân, làng có hai cái. Dòng cuối cùng của X-07 ghi: Mất. Kiểm kê ngày một tháng Mười hai. Người kiểm: Lành. Dòng mượn trước đó để trống.

– Mất, – bà Nhàn đọc. – Không ai ký mượn.

– Ai lấy mà không ký thì sao Mõ không ghi? – Đòng hỏi.

– Mõ xin báo: cửa xưởng mở bằng thẻ cư dân, Mõ có ghi người ra vào. Nhưng Mõ không ghi người cầm dụng cụ nào. Sổ xưởng do người tự ký. – Mõ dừng. – Danh sách người ra vào xưởng trong tháng Mười một gồm bốn mươi hai người.

Bốn mươi hai. Gần như cả làng ai làm việc có tay đều vào xưởng ít nhất một lần mỗi tháng.

Bà Nhàn đứng dậy.

– Thế này. Chuyện này ba người chúng ta biết, cộng ông Thiệp, cộng thằng Tấn. Chưa ai nói với ai. Bà cần biết ai đã mở cái nút trước khi bà đứng trước cả làng mà nói. Nếu bà nói bây giờ, cả làng sẽ chỉ tay vào ông Thiệp, vì ảnh ông nằm đấy. – Bà nhìn Đòng. – Bà không muốn thế. Cháu tìm cho bà. Anh thanh tra tìm cho bà.

Cô không kể chuyện tờ giấy cá. Cô định kể. Nhưng cô nghĩ tới thằng Mít đang ngồi ôm gối, "chị đừng nói với bố", và cô nuốt câu ấy xuống. Một trăm bốn mươi bảy con cá chưa phải là bằng chứng. Mười hai cái ủng đen chưa phải là bằng chứng. Ủng ướt băng mặn, cả mười một thợ mỏ đều có thể có. Kể cả bố cô.

Tối hôm ấy, cô lên Vòm Đình.

Trẻ con vẫn bị cấm lên, nhưng người lớn thì không. Đình vắng. Đèn trong vòm để mức thấp nhất, chỉ còn mấy ngọn đèn nhỏ dưới mái đình và ánh đỏ của hai cái đèn thờ. Ngoài lớp kính, trời đen kịt. Không phải đen của đêm, mà đen của bụi, một thứ đen dày đặc, có thớ, lâu lâu lại có một luồng sáng mờ màu đồng chạy qua khi gió xoáy bụi mỏng đi một chút, rồi lại tối. Cây đào đứng im dưới mái hiên, những cái nụ màu đồng vẫn nằm trên cành, chưa chịu nở, cũng chưa chịu rụng.

Anh Khiêm ngồi trên bậc đình. Cô ngồi xuống cạnh anh, cách một khoảng vừa đủ.

– Ở Hương Thành, – anh nói, như thể hai người đang nói dở một câu chuyện từ trước, – mùa ni mạ tôi hay ngồi ở hiên, nhìn mưa. Nhà tôi có cái hiên nhỏ, mái ngói, mưa xối xuống máng xối thành một bức mành. Mạ tôi bảo mưa Hương Thành không phải mưa, là trời đang khóc thay cho người khỏi phải khóc.

– Anh có nhớ không?

– Nhớ chi?

– Mưa.

Anh im một lúc.

– Nhớ, – anh nói. – Lên tới đây rồi mới biết là nhớ. Hồi ở dưới, tôi ghét mưa. Đi làm ướt giày. Giờ thì có những đêm tôi nằm, tôi mở tiếng mưa trong máy ra nghe, nghe tới lúc ngủ.

Đòng nhìn ra lớp kính đen.

– Tôi chưa thấy mưa bao giờ, – cô nói.

– Tôi biết.

– Anh không biết đâu. – Cô không định nói câu ấy gay gắt, nhưng nó ra như thế. – Không ai ở đây hiểu. Ai trong làng này cũng có một cái gì đó ở dưới kia để nhớ. Ông tôi nhớ ao làng. Bà Nhàn nhớ biển. Cô Ba nhớ sông. Anh nhớ mưa. Còn tôi thì không có gì để nhớ. Tôi chỉ có cái người ta kể.

Anh Khiêm không nói gì.

– Mẹ tôi hứa cho tôi thấy mưa, – cô nói. – Năm tôi mười tuổi. Hôm mẹ đi. Mẹ đứng ở Cửa Đình, mặc áo ngoài, sắp lên xe ra bãi tàu. Mẹ ôm tôi qua lớp áo, tôi không cảm thấy gì ngoài cái vỏ áo cứng. Mẹ bảo: mẹ sẽ cho con thấy mưa. Rồi mẹ đi. – Cô dừng lại. – Mười hai năm nay, tuần nào mẹ cũng gửi thư. Tuần nào cũng có một đoạn về mưa. Mẹ quay mưa, mẹ thu tiếng mưa, mẹ kể mưa ở Vĩnh Giang thế này thế kia. Mười hai năm. Tôi chưa trả lời lá nào.

– Vì răng?

– Vì mẹ đi. – Cô nhìn xuống hai bàn tay phồng rộp của mình. – Người ta bảo mẹ ốm. Tôi biết mẹ ốm. Nhưng ông tôi cũng ốm, bà Nhàn cũng ốm, ai ở đây lâu cũng ốm. Mà không ai đi. Chỉ có mẹ đi. Rồi mẹ không về nữa. Mười hai năm, đã năm chuyến tàu. Không chuyến nào có mẹ.

Anh Khiêm vẫn không nói gì. Cô đã chờ anh nói một câu, một câu kiểu người ta hay nói, kiểu "chắc mẹ cô có lý do", kiểu "cô nên trả lời đi". Anh không nói. Anh chỉ ngồi đó, nhìn ra lớp kính đen. Và lần đầu tiên trong mười hai năm, Đòng thấy cái im lặng của một người khác không làm cô muốn đứng dậy bỏ đi.

Một lúc lâu sau, anh đưa bàn tay ra, đặt lên mặt bậc đình, giữa hai người. Không chạm vào tay cô. Chỉ đặt đó. Cô nhìn bàn tay ấy. Rồi cô đặt tay mình xuống cạnh, gần tới mức hai ngón út chạm vào nhau.

Họ ngồi như thế.

Cái bảng tay trong túi áo anh kêu lên một tiếng.

Anh rút ra, nhìn. Đòng thấy mặt anh đổi sắc trong ánh sáng xanh của màn hình.

– Thư của Ban, – anh nói. – Gửi đi từ Vân Cảng hai mươi phút trước.

Anh đọc to, giọng đều, như đọc tờ giấy dán ở khoang điều áp:

– Gửi đại diện Ban tại khu định cư Hương Thành… à không, Hương Hoả. – Anh sửa, cười một tiếng ngắn, không vui. – Ban đã nhận báo cáo sự cố ngày tám tháng Một. Nhắc lại: báo cáo đánh giá cuối cùng về khu định cư phải gửi về trước ngày hai mươi chín tháng Chạp. Theo quy định an toàn, nếu sự cố địa chất đạt cấp ba, đại diện Ban bắt buộc đề xuất sơ tán toàn bộ khu định cư. Đề nghị đại diện theo dõi sát và báo cáo ngay khi có thay đổi cấp độ. Hết.

Cái loa dưới mái đình sáng lên, như thể Mõ đã nghe thấy.

– Mõ xin báo: hiện Mõ đang xếp sự cố ở cấp hai. Theo quy định, sự cố chuyển cấp ba khi khoảng cách giữa các chuỗi chấn động xuống dưới ba phút, hoặc khi khí các-bon vượt ngưỡng nguy hiểm ở bất kỳ khu vực nào đang có người ở. Bậc Một đã đóng, không tính. – Mõ ngừng một nhịp. – Khoảng cách hiện tại: năm phút năm mươi giây.

Ngoài lớp kính đen, gió lại xoáy, và trong một khoảnh khắc ngắn, bụi mỏng đi, để lộ ra một vệt sáng đồng mờ ở đâu đó phía trên. Rồi lại tối.

— Hết chương 12 —

Mục lục Làng lúa dưới hoàng hôn xanh

  1. 1Tiếng giã gạo lúc nửa đêm8 phút
  2. 2Muối ở gốc lúa11 phút đọc
  3. 3Hoàng hôn xanh11 phút đọc
  4. 4Mộ của người đi trước10 phút đọc
  5. 5Vết nứt dưới bậc Một10 phút đọc
  6. 6Lọ nước biến mất11 phút đọc
  7. 7Xuống Giếng Băng11 phút đọc
  8. 8Đường hầm số bốn10 phút đọc
  9. 9Lỗ khoan không có trên bản đồ11 phút đọc
  10. 10Ông nội ở cuối hầm11 phút đọc
  11. 11Bão bụi11 phút đọc
  12. 12Đứa trẻ đếm nhịp11 phút đọc
  13. 13Nhánh hang không tên11 phút đọc
  14. 14Nước mặn không đóng băng10 phút đọc
  15. 15Cái ao11 phút đọc
  16. 16Hai chiếc khoá10 phút đọc
  17. 17Đêm trước khi xuống10 phút đọc
  18. 18Đáy cái giếng11 phút đọc
  19. 19Mười bốn năm12 phút đọc
  20. 20Điều thứ chín12 phút đọc
  21. 21Lá thư mẹ không gửi10 phút đọc
  22. 22Hai mươi phút10 phút đọc
  23. 23Cấp ba11 phút đọc
  24. 24Rằm tháng Chạp10 phút đọc
  25. 25Người làng cãi nhau10 phút đọc
  26. 26Con voi gãy vòi10 phút đọc
  27. 27Gặt sớm12 phút đọc
  28. 28Chiếc khoá thứ ba11 phút đọc
  29. 29Ông Công ông Táo10 phút đọc
  30. 30Xuống lần cuối11 phút đọc
  31. 31Nhịp chày10 phút đọc
  32. 32Người ở lại11 phút đọc
  33. 33Mũi khoan từ trời10 phút đọc
  34. 34Ra khỏi lòng đất10 phút đọc
  35. 35Tất niên10 phút đọc
  36. 36Mưa xuân trên sao Hoả10 phút đọc

Về truyện này

Làng lúa dưới hoàng hôn xanh là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →