AI Truyện
Làng lúa dưới hoàng hôn xanh

🚀 Khoa học viễn tưởng

Mười bốn năm

Làng lúa dưới hoàng hôn xanh · Chương 19/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 19: Mười bốn năm

Ông nội tháo cái túi đồ khỏi vai, đặt xuống nền băng, kéo khoá.

Ông lấy cái chày lim ra. Lớp vải bọc đã cứng lại vì lạnh, ông phải bóc từng nếp. Rồi ông ngồi xuống một khối băng sát mép nước, đặt cái chày ngang trên đùi, đúng như cái đêm ông ngồi ở bờ bậc Một. Đèn trán vàng của ông chiếu xuống những bông sen đỏ gần nhất. Mặt nước đen lặng. Sương mỏng cuộn trên đó như khói hương.

– Ngồi xuống, – ông nói. – Ông kể một lần thôi. Lần thứ hai ông không kể được đâu.

Đòng ngồi xuống nền băng, ngay dưới chân ông. Anh Khiêm từ từ ngồi lùi lại. Chú Nghiệp đứng sau lưng ông, cách một sải tay, như người ta đứng hầu sau lưng người lớn trong đám giỗ.

– Năm sáu mốt, – ông nói, – làng có một trăm tám mươi người. Ba mươi mốt đứa trẻ sinh ở đây. Con là đứa lớn nhất, con tám tuổi. Năm ấy làng thiếu nước, vỉa băng ở hầm Ba bẩn, lọc mãi không trong. Ông đào hầm Bốn theo một vỉa băng trong như kính. Đào tới cuối thì vỉa chúi xuống. Ông khoan thăm dò theo nó.

Ông dừng lại thở. Hơi thở của ông đi qua bộ đàm đời cũ thành những tiếng rít ngắn.

– Hôm ấy làng gặt vụ thứ ba mươi, ai cũng ở ruộng, ông xuống một mình. Khoan được sáu chục mét thì mũi khoan hụt. Nước phụt lên tận trần buồng, lạnh, sủi bọt như ai mở chai rượu nếp. Ông ngã ngửa ra. Ông tưởng là túi khí thật. Ông nằm đấy nhìn nước muối đông lại trên kính mũ. Rồi ông thấy trong lớp băng vàng ấy có những chấm đỏ.

– Ông mang lên, – Đòng nói.

– Một xô. Chiều ấy ông gọi bố con với thằng Nghiệp, bảo phải bịt ngay. Đêm ấy bịt. Rồi ông về nhà, mở cái kính hiển vi ông vẫn dùng để soi vi khuẩn trong đất ruộng. Ông soi cả đêm.

– Ôn thấy chi? – anh Khiêm hỏi. Giọng anh khàn đi.

– Thấy tế bào. – Ông nói chữ ấy chậm, rõ, như đọc số trên cân thóc. – Tròn. Có vách. Ông nhỏ cái thuốc nhuộm chỉ bắt màu vào tế bào còn sống, nó bắt màu. Ông nhốt một ít nước vào lọ kín, cắm đồng hồ áp suất lên nắp. Hai ngày sau, khí các-bon trong lọ tụt đi một chút. Có cái gì trong ấy đang ăn khí. Đêm thứ hai, ông ngồi nhìn một cái tế bào tách ra làm hai. Bốn mươi tiếng nó mới tách xong. Ông nhìn hết bốn mươi tiếng.

Mặt nước đen gợn ba vòng, rồi lặng.

– Ông biết luật, – ông nói. – Công ước năm bốn chín. Thấy sự sống thì bảy ngày phải báo. Báo rồi thì ngừng hết mọi việc đào bới trong năm chục cây số, rồi làng phải trình phương án dời đi. Năm chục cây số quanh đây, chỗ nào cũng là cái Giếng Băng này. Làng không có nước thì không có làng. Mà tàu hai năm nữa mới tới. Dời đi nghĩa là về.

Ông cúi nhìn cái chày.

– Ba mươi mốt đứa trẻ, xương lớn lên ở chỗ nhẹ này. Về dưới kia thì đứa nằm, đứa ngồi xe. Đêm ấy ông cầm cái kính hiển vi, nhìn sang buồng bên, con đang ngủ đạp chăn. Ông bảo: thôi. Để ông giữ. Khi nào làng đủ sức thì ông nói.

– Rứa răng ôn không nói?

– Vì làng không bao giờ đủ sức. – Ông ngẩng lên. – Năm thì mất vụ. Năm thì người ốm. Năm thì Ban đòi cắt tiền. Năm thì có đứa trẻ mới ra đời. Năm nào ông cũng bảo: sang năm. Mười bốn cái sang năm.

Đòng nhìn những bông sen đỏ trên mặt nước. Chúng nằm im, xếp vòng trong vòng, như những lát gấc người ta xếp thành hoa trên đĩa xôi ngày giỗ.

– Cái ao này, ông xuống bằng cách nào?

– Tháng sau. Ông bảo Mõ dò tiếng vọng quanh cái lỗ khoan. Mõ bảo bên dưới có một khoảng rỗng rất lớn, có một khe nứt đi từ cái ngách kia xuống. Ông với thằng Nghiệp nới cái khe ra, ông bắt cái thang, ông xuống trước. Ông đứng đúng chỗ này ba tiếng, cho tới khi bình dưỡng khí kêu. Rồi ông đặt tên nó là Ao Sen. Rồi thằng Nghiệp hàn cái nắp.

Ông quay đầu, nhìn lên chú Nghiệp.

– Thằng Sơn không biết. Nó là con ông, ông không muốn con ông mang cái tội của ông. Thằng Nghiệp thì ông cần, vì nó biết hàn, và vì nó là đứa ông tin nhất.

– Thầy nói đúng, – chú Nghiệp nói. Giọng chú phẳng. – Tôi biết từ năm sáu mốt. Tôi xuống đây với thầy hai lần.

Anh Khiêm đứng dậy, phải vịn tay vào một cột băng. Qua tấm kính mũ, mặt anh trắng bệch, mắt cứ chạy từ bông sen này sang bông sen khác như người cố đếm một thứ không đếm được.

– Ôn có biết ôn đang ngồi trước cái chi không?

– Biết.

– Cháu không nghĩ là ôn biết. – Lần đầu tiên Đòng nghe anh nói nhanh. – Từ khi loài người biết ngước lên trời, người ta đã hỏi một câu: có cái chi khác sống không. Hàng trăm năm, gửi tàu, gửi máy, soi đá, tốn không biết bao nhiêu của. Câu trả lời nằm ở đây, dưới chân làng mình. Mười bốn năm cả loài người không biết, vì ôn đóng một cái nắp.

– Ừ. Ông phạm luật. Anh thanh tra cứ viết thế. Viết đúng như thế.

Anh Khiêm há miệng, rồi đóng lại. Anh quay ra nhìn mặt hồ, hai tay buông thõng. Đòng đã thấy cái vẻ ấy trên mặt anh dưới hầm Bốn, cái vẻ của người phải cầm hai cái chén đầy trên hai bàn tay. Lần này cái chén nặng hơn nhiều.

Ông nội nâng cái chày lim lên, chìa ra phía sau.

– Nghiệp.

– Thầy.

– Năm ấy ông bắt mày đặt tay lên đây mà thề. Hôm nay có người làm chứng. Ông giải lời thề cho mày. Mày đặt tay lên, rồi từ giờ mày muốn nói gì thì nói, không còn nợ gì ông.

Chú Nghiệp nhìn cái chày.

Chú đưa bàn tay phải ra, bàn tay đi găng mà bên trong là lớp băng quấn cả làng đã quen nhìn. Nó đi tới gần cái chày, chỉ còn cách mặt gỗ một đốt ngón tay. Rồi nó dừng lại ở đó.

Nó không run như hôm ở hầm Bốn. Nó lơ lửng, như bàn tay chìa ra định bắt tay một người rồi chợt nhận ra người ấy là ai. Một nhịp. Hai nhịp. Rồi chú rụt tay về.

– Thầy cứ cất đi. Tôi không cần giải.

Ông nhìn chú rất lâu. Chú không quay đi. Rồi ông hạ cái chày xuống đùi, và không nói gì nữa.

Đòng ghi nhớ cái đốt ngón tay ấy. Cô không biết vì sao. Nó giống cái giây im lặng của Mõ hôm họp đầu tiên, cái chỗ lún trên bờ ruộng quen.

– Ông, – cô nói. – Cái nhịp. Ông biết nó là gì không?

– Ông đoán. – Ông chỉ gậy ra mặt hồ. – Cái ao này nằm dưới ba trăm mét băng. Băng đè lên, nước bị ép, khí các-bon bị ép tan vào nước, như rượu nếp đậy nút ủ trong vò. Mười bốn năm nó nằm yên vì cái nút còn kín. Rồi có đứa khoan thủng. Khí tìm được chỗ thoát, sủi lên theo cái lỗ, kéo nước theo. Sủi hết một đợt thì nước hạ, rồi khí lại dồn, lại sủi. Ba nhịp nghỉ một. Vì sao lại là ba thì ông không biết. Nhưng mỗi lần sủi, nó cào mòn cái lỗ thêm một tí, nứt băng thêm một tí. Lỗ to ra thì nó sủi nhanh hơn. Sủi nhanh hơn thì lỗ to ra nhanh hơn.

– Như người thở gấp, – Đòng nói.

– Ừ. Mà người thở gấp mãi thế, thì con biết rồi đấy.

Ông lần trong túi áo ngoài, lấy ra một cái lọ thuỷ tinh nắp vặn. Đòng nhận ra nó: cái lọ ông rửa sạch để trong tủ bếp, cái lọ cô đã đặt lên bàn đêm qua cạnh cuộn giấy cá của thằng Mít. Cô không biết ông lấy lại nó lúc nào.

Ông chống gậy cúi xuống mép nước, lắc đầu khi cô định đỡ. Ông nhúng cái lọ xuống chỗ một bông sen nhỏ bằng bàn tay trẻ con, dùng mép lọ tách một mẩu cánh to bằng móng tay cái cho trôi vào, rồi vặn nắp, đưa cho cô.

– Lần này con mang thẳng sang Lụa. Đừng qua tay ai. Kể cả tay ông.

Cái lọ lạnh tới mức cô cảm thấy qua cả hai lớp găng. Bên trong, mẩu cánh sen đỏ son lả đi trong nước đen. Cô cất nó vào túi áo trong cùng, sát ngực, kéo khoá lại.

Đúng lúc ấy, đất không nện.

Đòng là người đầu tiên để ý, vì cô vẫn đếm. Từ lúc xuống tới đây, cứ chừng gần năm phút đất lại nện ba cái. Lần cuối là lúc ông kể chuyện cái kính hiển vi. Cô nhìn đồng hồ trên cổ tay áo. Bảy phút. Tám phút.

– Ông. Nó không nện.

Chú Nghiệp quay phắt đèn ra mặt hồ.

Ở giữa hồ, chỗ xa nhất đèn trán còn với tới, mặt nước đen đang phồng lên.

Nó phồng lên rất chậm, như cái lưng con trâu từ từ trồi khỏi mặt ao. Không có sóng. Mặt nước vẫn bóng như gương, chỉ có điều nó không còn nằm ngang nữa. Nó gồ lên thành một cái vòm tròn, cao dần, đẩy những đám sen đỏ trượt ra hai bên như lá trôi trên mặt nồi sắp sôi. Lớp sương bị dạt về phía bờ, cuộn lại, dày lên.

– Lùi lại, – chú Nghiệp nói rất khẽ. – Về chân thang. Ngay.

Đòng nắm cánh tay ông kéo đi, cái chày lim ông kẹp dưới nách. Mười bước. Mười lăm bước.

Rồi cái vòm nước vỡ.

Nó vỡ từ bên trong. Một cột trắng xoá phụt thẳng lên từ đỉnh vòm, đập vào những nhũ băng trên trần, toả ra thành một đám mây đặc. Khí các-bon bị ép mười bốn năm, cộng với tất cả những gì nó nín lại trong mười phút vừa rồi. Đòng không nghe thấy tiếng nổ, ở đây không đủ không khí để mang tiếng. Cô chỉ cảm thấy nó đi lên từ nền băng, qua xương ống chân, qua xương sống, lên tới chân răng.

Thịch.

Không phải ba nhịp. Một nhịp. Một nhịp to bằng tất cả những nhịp cô đã đếm từ đêm mùng hai cộng lại.

Nền băng dưới chân nảy lên như mặt trống. Trên trần, một nhũ băng to bằng cột nhà tách ra, rơi xuống chậm rãi trong trọng lực yếu, cắm xuống mặt hồ cách bờ hai chục mét, làm tung lên một bức màn nước đen và vụn sen đỏ.

Sóng ập vào bờ.

Đó là lúc Đòng thấy anh Khiêm. Anh không đi cùng họ. Anh vẫn đứng sát mép nước, chỗ ban nãy anh quỳ, một tay vịn cột băng, đèn trán chiếu ra cái cột trắng giữa hồ, đứng như người bị đóng đinh xuống đất.

– Anh Khiêm!

Sóng đen tràn qua chân anh, rút xuống. Và cái mép băng nơi anh đứng rút theo. Một đường nứt chạy ra từ chân cột băng, đen ngòm, nhanh như vệt mực loang. Cả một mảng bờ rộng bằng cái chiếu chúi xuống phía mặt nước, và anh Khiêm nghiêng theo nó.

Một người lao qua trước mặt Đòng.

Chú Nghiệp không chạy như người ta chạy ở Trái Đất. Chú nhún một cái, cả người lao đi theo một đường dài và thấp, kiểu người hai mươi ba năm sống ở trọng lực này mới biết. Chú đáp xuống mảng băng còn nguyên ngay sát đường nứt, đúng lúc mảng kia sụt. Hai bàn tay quấn băng túm được cái quai đeo bình dưỡng khí trên lưng anh Khiêm. Chú ngả cả người ra sau.

Mảng băng chìm xuống, mang theo cái cột anh Khiêm vừa vịn, mang theo ba bông sen bám trên chân cột. Anh Khiêm treo một nhịp trên mép nước đen, hai chân đạp vào khoảng không. Rồi chú Nghiệp lôi anh lên. Hai người ngã chồng lên nhau trên băng cứng.

– Lên! – chú hét vào bộ đàm, giọng vỡ ra. – Thầy lên trước! Đòng, đưa thầy lên!

Đòng móc dây vào đai áo ông. Cô không nhớ hai tay mình đã làm thế nào, chỉ nhớ ông không cãi một tiếng. Ông ôm cái chày lim vào ngực, và cô leo, kéo ông theo từng bậc thang nhôm rung bần bật.

Lên được chừng mười mét, cô quay đèn xuống.

Cột trắng giữa hồ đã tắt. Đám mây khí đang tan dần dưới trần. Mặt nước vẫn chao, những vòng sóng lớn chạy đi chạy lại giữa những cột băng xanh. Chú Nghiệp đang đẩy anh Khiêm lên chân thang. Và ở chỗ ban nãy anh Khiêm quỳ, nơi có những bông sen to nhất, bây giờ chỉ còn một vết băng gãy sắc cạnh, và nước đen.

— Hết chương 19 —

Mục lục Làng lúa dưới hoàng hôn xanh

  1. 1Tiếng giã gạo lúc nửa đêm8 phút
  2. 2Muối ở gốc lúa11 phút đọc
  3. 3Hoàng hôn xanh11 phút đọc
  4. 4Mộ của người đi trước10 phút đọc
  5. 5Vết nứt dưới bậc Một10 phút đọc
  6. 6Lọ nước biến mất11 phút đọc
  7. 7Xuống Giếng Băng11 phút đọc
  8. 8Đường hầm số bốn10 phút đọc
  9. 9Lỗ khoan không có trên bản đồ11 phút đọc
  10. 10Ông nội ở cuối hầm11 phút đọc
  11. 11Bão bụi11 phút đọc
  12. 12Đứa trẻ đếm nhịp11 phút đọc
  13. 13Nhánh hang không tên11 phút đọc
  14. 14Nước mặn không đóng băng10 phút đọc
  15. 15Cái ao11 phút đọc
  16. 16Hai chiếc khoá10 phút đọc
  17. 17Đêm trước khi xuống10 phút đọc
  18. 18Đáy cái giếng11 phút đọc
  19. 19Mười bốn năm12 phút đọc
  20. 20Điều thứ chín12 phút đọc
  21. 21Lá thư mẹ không gửi10 phút đọc
  22. 22Hai mươi phút10 phút đọc
  23. 23Cấp ba11 phút đọc
  24. 24Rằm tháng Chạp10 phút đọc
  25. 25Người làng cãi nhau10 phút đọc
  26. 26Con voi gãy vòi10 phút đọc
  27. 27Gặt sớm12 phút đọc
  28. 28Chiếc khoá thứ ba11 phút đọc
  29. 29Ông Công ông Táo10 phút đọc
  30. 30Xuống lần cuối11 phút đọc
  31. 31Nhịp chày10 phút đọc
  32. 32Người ở lại11 phút đọc
  33. 33Mũi khoan từ trời10 phút đọc
  34. 34Ra khỏi lòng đất10 phút đọc
  35. 35Tất niên10 phút đọc
  36. 36Mưa xuân trên sao Hoả10 phút đọc

Về truyện này

Làng lúa dưới hoàng hôn xanh là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →