Chương 15: Cái ao
– Ao làng ông ở ngay trước cửa đình, – ông nội nói. – To bằng ba cái bậc ruộng nhà mình cộng lại. Nước xanh như nước chè tươi. Mùa hè sen nở kín mặt, mùa đông người ta tát ao bắt cá chia cho cả làng.
Ông nằm nghiêng, đầu kê cao trên hai cái gối. Cơn sốt đã lui từ đêm qua, nhưng giọng ông còn khàn, nói một câu lại phải nghỉ lấy hơi. Đòng ngồi trên cái ghế đẩu cạnh giường, tay cầm bát cháo đã nguội. Giường bên kia tấm rèm, bố vẫn ngủ thiếp đi vì thuốc an thần.
Cô đã hỏi ông một câu. Một câu thôi: "Cái ao là gì hả ông?" Và ông bắt đầu kể chuyện ao làng Đông Hạ.
– Năm ông lên sáu, ông Cả nhà bên vứt ông xuống ao. Bảo thế mới biết bơi. Ông uống no nước ao, ho sặc sụa, bà cố ông chạy ra mắng ông Cả một trận. Nhưng mà biết bơi thật. – Ông cười, cái cười khọt khẹt. – Rồi ao ấy là chỗ cả làng sống. Rửa rau, giặt áo, tắm trâu. Tối mùa hè bọn trẻ con ra bờ ao nằm ngửa đếm sao. Sao ở quê nhiều hơn ở đây, con ạ. Ở đây trời trong thì trong thật, nhưng sao nó lạnh. Sao ở quê nó ấm.
– Ông.
– Bà cố ông, – ông nói tiếp, không để ý, – có cái cối đá với cái chày lim. Cái chày bây giờ ông giữ ấy. Lim ở quê ông, gỗ nặng như sắt, ngâm nước trăm năm không mục. Ông cố ông đẽo cho bà cố ông năm bà về làm dâu. Bà cố ông giã gạo bằng nó suốt sáu chục năm. Tết nào cũng giã. Giã cốm, giã giầy. Lúc bà mất, bà gọi ông vào, bảo: cái chày này là của nhà mình. Đi đâu thì mang theo. Đừng để nó nằm một mình.
Ông nhìn lên trần trạm y tế, nơi có một dải đèn nhỏ màu vàng.
– Năm năm hai, lên tàu, mỗi người chỉ được mang theo bốn ký đồ riêng. Cái chày nặng hai ký ba. Ông bỏ hết quần áo, chỉ mang hai bộ, để mang cái chày. Ban kiểm tra hàng hoá bảo ông là gỗ lim chưa xử lý, mang lên sao Hoả có nguy cơ nấm mốc. Ông ngồi xử lý nó ba tuần, đun nó trong nồi áp suất, sấy nó trong lò, cho tới khi người ta cho mang. – Ông nhắm mắt. – Bốn mươi người mang lên đây bao nhiêu thứ. Hạt giống, máy móc, thuốc men, sách vở. Chỉ có ông mang một khúc gỗ.
Đòng đặt bát cháo xuống.
– Ông. Cháu không hỏi ao làng Đông Hạ.
Ông im.
– Bố cháu nói mê, – cô nói, chậm, từng chữ. – Bố bảo: ông bảo bịt lại. Ông bảo đừng cho ai thấy cái ao. Không phải ao làng. Cái ao ở dưới đất. Cái ao ở cuối cái lỗ khoan.
Ông vẫn nhắm mắt. Một lúc lâu, lâu tới mức cô tưởng ông đã ngủ. Ở dưới sàn trạm y tế, đất nện ba cái. Cái cốc nước trên bàn đầu giường ông gợn sóng.
– Mai, – ông nói.
– Ông bảo ba ngày. Đã một tuần rồi.
– Ông biết. Ông ốm, con bé ạ. Ông ốm chứ ông không trốn. – Ông mở mắt ra nhìn cô. Mắt ông đục, nhưng tỉnh. – Mai ông dậy được thì mai ông nói. Ông thề với con.
– Ông thề với bố cháu năm sáu mốt. Ông bắt bố cháu thề.
Ông không cãi. Ông chỉ quay mặt vào vách.
– Hôm nay là mùng Một tháng Chạp, – ông nói vào vách. – Con lên đình thắp cho ông ba nén hương. Ông chưa lên được.
Đòng đứng dậy. Cô định nói một câu, một câu thật nặng, một câu cô đã nghĩ suốt đêm qua lúc ngồi cạnh giường bố. Nhưng cô nhìn cái lưng còng của ông dưới tấm chăn mỏng, cái gáy có vết sẹo nhỏ, và cô không nói được. Cô cầm bát cháo nguội ra khỏi phòng.
Cô lên đình thắp hương. Mùng Một tháng Chạp, theo lịch Kinh Lạc. Ở làng, ngày này người ta lên đình thắp hương sớm, bắt đầu đếm ngày tới Tết. Những năm khác, sáng mùng Một tháng Chạp, cây đào ngoài hiên đã được ông nội cho đèn chiếu sáng thêm, những cái nụ đã căng, đã bắt đầu thấy màu hồng ở đầu. Năm nay ông nằm trạm y tế, đèn Vòm Đình để mức thấp nhất vì bão. Những cái nụ vẫn màu đồng, vẫn khép chặt.
Ba nén hương làm bằng bột vỏ trấu trộn bã quế trồng trong vườn ươm, cháy chậm, thơm nhẹ, khói bốc lên thẳng tắp rồi tan vào dưới mái vòm. Đòng đứng trước bàn thờ rất lâu. Cô không biết cầu gì. Cô chỉ đứng.
Chiều, hội đồng họp.
Chuyện bố cô ngã xuống nước muối dưới Hố Trời Thủng đã lan khắp làng từ sáng. Cả làng giờ biết rằng dưới mạn đông nam Hang Cái có một nhánh ống dung nham, có một dòng nước muối đang chảy về phía làng. Mõ chiếu tấm bản đồ có nhánh Rồng Ngủ lên vách đình, và người ta xì xào, có người kéo áo nhau chỉ trỏ, có bà cụ lẩm bẩm "đấy, tôi đã bảo là có rồng mà".
Bà Nhàn ngồi đầu bàn. Bà biết chuyện hầm Bốn. Đòng thấy bà nhìn cô một lần, ngắn, rồi thôi, và bà không nói một chữ nào về hầm Bốn suốt cuộc họp.
Chú Nghiệp xin nói.
Chú đứng dậy. Chú đã cạo râu, đã thay một cái áo bảo hộ sạch. Hai bàn tay vẫn quấn băng. Chú không nhìn vào bản đồ trên vách. Chú nhìn quanh bàn, nhìn từng người.
– Tôi đề nghị một việc, – chú nói. – Tôi biết nói ra thì có người không bằng lòng. Nhưng tôi là kỹ sư trưởng. Tôi phải nói.
Cả đình im.
– Nhịp bây giờ còn năm phút. Mõ tính tới hai mươi tháng Chạp thì liền. Chúng ta đã mất bậc Một. Bậc Hai đang giữ được nhờ cái mương của con Đòng, nhưng không biết được bao lâu. Bây giờ thì có thêm một dòng nước muối chạy dưới chân làng mà hai mươi ba năm nay chúng ta không biết. Tôi không biết được nó sẽ đi đâu nữa. Không ai biết. – Chú dừng lại. – Tôi đề nghị hội đồng gửi thư lên Ban. Xin Ban xếp ưu tiên cho phụ nữ và trẻ con lên chuyến tàu năm bảy sáu. Và từ giờ tới lúc ấy, chuẩn bị khu trú ẩn cũ, phòng khi phải dồn người.
Không ai nói gì trong mấy giây. Rồi cô Ba Huệ đặt mạnh cái cốc nước xuống bàn.
– Trời đất ơi. Anh Nghiệp, anh nói vậy là anh muốn bỏ làng?
– Tôi không muốn bỏ làng. Tôi muốn trẻ con sống.
– Trẻ con ở đây sống hai mươi ba năm nay rồi.
– Bảy người nằm trên Đồi Mả, chị Ba ạ, – chú Nghiệp nói, giọng không lên, không xuống. – Trong đó có vợ tôi. Thằng Mít nhà tôi chín tuổi, xương nó chỉ bằng bảy phần mười đứa trẻ dưới kia. Con chị Mận, con anh Lành, con nhà ai cũng thế. Chúng nó sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, không đứa nào được chọn. Bây giờ dưới chân chúng nó có một cái gì đó đang nện, mỗi ngày một nhanh, mà chúng ta không biết nó là gì. – Chú nhìn quanh. – Tôi chỉ xin một việc: xếp ưu tiên. Có tàu thì chúng nó được về trước. Thế thôi.
– Về cái gì mà về, – cô Ba Huệ nói, nhưng giọng cô đã nhỏ đi. – Con nhỏ Đòng nó về dưới kia đứng còn hổng nổi.
Đòng ngồi im. Cô cảm thấy mọi con mắt trong đình đang quay về phía cô. Cô không nói gì.
Anh Khiêm lên tiếng. Anh nói rất chậm.
– Đề nghị của anh Nghiệp hợp với quy định của Ban. Nếu hội đồng biểu quyết gửi, tôi sẽ chuyển. Nhưng tôi phải nói rõ: chuyến tàu năm bảy sáu chở được tối đa ba mươi tám người lượt về. Làng có một trăm hai mươi bảy phụ nữ và năm mươi mốt trẻ em dưới mười sáu tuổi.
Lại những con số. Lần này không ai ghét anh vì những con số ấy. Lần này người ta chỉ ngồi lặng đi.
Bà Nhàn gõ bút.
– Không biểu quyết hôm nay. Để bà nghĩ. Anh Nghiệp, cảm ơn anh. Anh nói điều phải nói. – Bà nhìn chú, lâu hơn bình thường. – Tan.
Tối ấy, Đòng ngồi một mình trong nhà Mõ.
Cô không làm gì cả. Cô chỉ ngồi, nhìn ba dãy máy chủ chạy ù ù sau vách kính, những ngọn đèn nhỏ xanh đỏ nhấp nháy. Cô nghĩ tới chú Nghiệp đứng giữa đình nói chuyện thằng Mít. Cô nghĩ tới cái mặt tái của chú đêm vá màng. Cô nghĩ tới đôi tay run trên cái kích. Cô nghĩ tới câu chú nói ở cửa trạm y tế: "Cái gì dưới đấy cũng để chú lo." Cô nghĩ tới một trăm bốn mươi bảy con cá và mười hai cái ủng đen.
Rồi cô nghĩ tới một câu khác. Một câu cô đã nghe từ hai tuần trước, trong đình, hôm họp đầu tiên, và nó đã nằm lại trong đầu cô như một hạt sạn trong bát cơm. Anh Khiêm hỏi: Mõ có số liệu dưới mỏ không. Và Mõ đã im một giây. Một giây, với Mõ, là lâu. Rồi Mõ trả lời:
Mõ không có số liệu nào để báo về Giếng Băng.
Không có số liệu nào để báo. Không phải: Mõ không có số liệu. Không phải: Giếng Băng không có gì bất thường. Mà là: không có số liệu nào để báo.
Chú Nghiệp, cũng hôm ấy, nói gần như cùng lúc: mỏ bình thường. Rồi dưới hầm Sáu, khi anh Khiêm hỏi lại, chú bảo: thì là không có gì để báo.
Ông nội viết quy chế của Mõ năm năm ba. Cô thuộc quy chế ấy như thuộc bảng cửu chương, vì năm mười hai tuổi ông bắt cô chép tay lại cả bản. Điều một: Mõ không được nói sai sự thật. Điều hai: Mõ không được tự sửa mình. Điều bảy: khi có lệnh im lặng hợp lệ, Mõ không tự báo những điều thuộc phạm vi lệnh, nhưng nếu được hỏi trực tiếp có lệnh hay không, Mõ phải trả lời là có.
Phải hỏi trực tiếp.
Hai tuần nay, chưa ai hỏi trực tiếp.
Đòng ngồi thẳng dậy. Cô nhìn cái loa tròn trên trần nhà Mõ. Cô thấy tim mình đập nhanh, như hồi bé lần đầu ông cho cô một mình mở van nước bậc Chín.
– Mõ.
– Mõ nghe.
– Mõ trả lời cháu một câu. Có lệnh nào khiến Mõ không được báo số liệu ở Giếng Băng không?
Lần này Mõ im lâu hơn một giây. Lâu hơn nhiều. Những ngọn đèn nhỏ sau vách kính nhấp nháy, xanh, đỏ, xanh.
– Có, – Mõ nói.
Đòng nắm chặt hai tay vào mép bàn.
– Lệnh gì?
– Một lệnh im lặng. Ban hành lúc hai mươi hai giờ năm mươi phút giờ làng, ngày hai mươi mốt tháng Mười một năm ngoái. Lệnh áp cho toàn bộ máy đo địa chấn và máy đo khí đặt trong Giếng Băng. Theo lệnh này, Mõ không tự báo số liệu của các máy ấy cho bất kỳ ai, kể cả trong bản tin địa chất hằng tuần. – Mõ dừng một nhịp. – Lệnh được ban hành hợp lệ, bằng hai khoá.
Ngày hai mươi mốt tháng Mười một. Một tuần trước khi Mõ ghi được chấn động đầu tiên. Một tuần trước khi đất bắt đầu nện.
– Khoá của ai? – Đòng hỏi. Giọng cô khô khốc.
– Theo quy chế, Mõ chỉ được nêu những khoá đã dùng để ban hành một lệnh im lặng khi hội đồng làng biểu quyết yêu cầu. – Giọng Mõ vẫn đều, vẫn chậm, như mọi khi. Nhưng lần này, Đòng nghe ra trong cái đều đều ấy một cái gì đó gần như là xin lỗi. – Mõ không thể nói với cô Đòng. Mõ chỉ có thể nói trước hội đồng.
— Hết chương 15 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe