Chương 29: Ông Công ông Táo
Ba con cá chép đỏ quẫy trong cái chậu nhôm, nước sóng sánh tràn ra mép.
Sáng hai mươi ba tháng Chạp, cô Ba Huệ bưng chậu cá xuống bờ mương bậc Chín, đặt xuống, chắp tay khấn mấy câu mà Đòng chỉ nghe được loáng thoáng. Ông Táo về trời. Phù hộ cho làng. Cho cái lò đừng tắt. Ở làng này, hai mươi ba năm nay người ta vẫn nói đùa với nhau rằng hai mươi ba tháng Chạp là ngày tiễn ông Táo, mà tuyệt đối không được tiễn cái lò. Năm nay không ai cười câu ấy.
Cá chép làng nuôi trong bể ở vườn ươm, mỗi năm chọn ba con đẹp nhất thả xuống mương bậc Chín. Nước mương chảy xuống, cá bơi theo, tới cống chặn ở bậc Năm thì có tấm lưới chờ sẵn, chiều tối bọn trẻ con xuống bắt lên thả lại vào bể. Ông Táo được tiễn đi, cá được về nhà. Ông nội nghĩ ra cái lệ ấy từ năm năm ba. Năm nay tấm lưới được chuyển lên bậc Sáu, vì từ bậc Ba trở xuống, nước mương đã có muối.
Cô Ba nghiêng chậu. Ba con cá đỏ trôi ra mương, quẫy một cái, rồi bơi đi.
Ông nội đứng trên bờ, chống gậy, nhìn theo chúng.
Tối hôm kia, ở nhà Mõ, sau câu ông nói, không ai nói được gì một lúc lâu. Rồi ông kể. Ông kể ngắn, như kể một việc đồng áng. Bốn giờ kém mười sáng mùng một, ông chống gậy đi qua hành lang Cửa Đình. Cái chìa đồng của cửa phụ Nhà Tàu có hai chiếc, làm năm năm hai, một chiếc treo ở tổ xe, một chiếc của trưởng làng. Chiếc của trưởng làng vẫn nằm trong ngăn kéo bàn ông, cạnh cái kính hiển vi, hai mươi ba năm không ai hỏi tới. Ông dùng cái pa lăng của xưởng để hạ cái vòi khoan xuống, vì ông không nhấc nổi. Ông biết cuộn dây nào là cuộn chính, vì con Voi đầu tiên của làng, năm năm ba, ông với thằng Nghiệp vẽ trên một tờ giấy gói hàng.
– Tại sao? – bà Nhàn hỏi.
– Vì cái ống của con Đòng sẽ chọc vào cái ao. – Ông nói đều. – Ông giữ nó mười bốn năm. Ông sợ áp suất tụt thì sen giữa ao chết. Ông sợ cái ống chọc lệch vào chỗ sen dày. Ông không để ai chọc thủng nó. Ông nghĩ thế. – Ông dừng một nhịp. – Rồi hôm qua ông ngồi trên bờ bậc Năm, nhìn người ta khiêng con Mận với thằng Gióng lên bờ bậc Ba. Mặt thằng bé tím ngắt. Ông ngồi đấy mà nghĩ: mười bốn năm trước ông chọn làng hơn cái ao, ông giấu cái ao. Đêm mùng một ông chọn cái ao hơn làng, ông phá con Voi. Hai lần chọn ngược nhau, mà lần nào cũng sai. – Ông nhìn khắp bàn. – Lần này để các anh các chị chọn.
Sáng nay, hội đồng chọn.
Họp ở đình, không phải ở nhà Mõ, vì bà Nhàn bảo cả làng phải được nghe. Người ta đứng kín sân như đêm Rằm. Nhưng không ồn như đêm Rằm. Nhịp liền đã sang ngày thứ tư, dưới chân người ta, đất nện không nghỉ, và người ta đã quen với nó như quen với tiếng quạt, cái quen của người không còn sức để sợ nữa. Nước muối đã tràn qua mương chặn thứ hai, ăn vào bờ nam bậc Ba. Mõ đóng thêm cửa ngăn tạm ở bậc Ba. Bốn mươi mốt người dãy năm vẫn ngủ ở Nhà Tàu.
– Làng làm cái ống xả, – bà Nhàn nói. – Không chờ Ban. Ai đồng ý thì giơ tay.
Mười một cánh tay. Lần này, giữa mười một cánh tay ấy, có tay anh Khiêm.
– Tôi là người của Ban, – anh nói, sau khi hạ tay xuống. – Ban cấm. Tôi biết. Tôi sẽ gửi Ban một bản ghi lý do, ghi rõ ai quyết, quyết lúc mấy giờ, vì sao không chờ được. Và ghi rằng đại diện Ban đã giơ tay. – Anh đẩy gọng kính. – Tôi đã viết hai trăm trang để người ta đọc phần thứ ba. Bây giờ nếu tôi không giơ tay, thì phần thứ ba chỉ là giấy.
Đòng đứng ở dưới hiên đình, nhìn anh. Cô không nói gì. Nhưng cô thấy có mấy người trong làng, những người tuần trước đã hét vào mặt anh, gật đầu.
Rồi cô đứng ra.
Cô bảo Mõ chiếu lên vách đình tấm bản đồ mà cô đã thức trắng đêm qua để vẽ lại. Ở trên cùng là Hang Cái, chín bậc ruộng, những vệt muối như rễ cây. Ở dưới cùng là cái ao, Mõ vẽ lại từ tiếng vọng của sáu máy đo, bây giờ đã rõ hình. Nó không tròn. Nó giống một quả bầu nậm nằm nghiêng: một bầu to ở phía tây, một bầu nhỏ ở phía đông, nối nhau bằng một cái eo hẹp.
– Mọi người nhìn những cái rễ, – Đòng nói. – Những vệt muối trên ruộng. Cái rễ cái chạy từ dưới bậc Một về phía nam, qua nhánh Rồng Ngủ, xuống tới đây. – Cô chỉ vào cái bầu to phía tây. – Cái lỗ khoan cũ nằm trên bầu này. Mọi khe nứt dẫn về làng đều xuất phát từ bầu này. Nước chảy ra chảy vào ở bầu này. Chỗ nào có nước chảy thì chỗ ấy có sen.
Cô dịch ngón tay sang cái bầu nhỏ phía đông.
– Còn đây. Không có cái rễ nào. Không có khe nứt nào về làng. Nước tù. Ông cháu đi tới tận vách năm sáu mốt, mẹ cháu nghe ông kể năm sáu hai: băng trắng như vôi, không có sen. – Cô quay lại nhìn ông. Ông gật. – Cái ống xả vào đây. Khí sẽ ra đằng này, lên mặt đất, cách Giếng Băng bốn trăm hai mươi mét về phía đông nam, cách làng hơn hai cây rưỡi. Cái eo hẹp giữa hai bầu sẽ làm cho nước ở bầu to không bị kéo đi quá nhanh. Sen ở bầu to vẫn bị chao. Có thể sẽ chết một ít. Nhưng không bị chọc thủng.
– Cái cột phát âm? – chú Nghiệp hỏi. Chú đứng ở cuối sân, hai bàn tay quấn băng lại. Chú không ngồi ở bàn hội đồng nữa. Sáng nay, trước khi họp, chú đã tự đặt cái thẻ K-1 lên bàn bà Nhàn.
– Phải có người xuống ao, đi từ chân thang men theo bờ nam, qua cái eo, sang bầu đông, – Đòng nói. – Chừng một trăm tám mươi mét. Qua rừng cột băng. Đặt cái cột trên một gờ băng chắc ở bờ bầu đông, cách chỗ ống xả sẽ thông vào chừng ba chục mét. Bật nó lên. Rồi đi về. Con Voi ở trên nghe tiếng mà lần xuống những mét cuối.
– Ai đi?
– Cháu, – Đòng nói. – Cháu biết nước muối. Cháu biết băng vàng.
– Tôi, – anh Khiêm nói.
Bà Nhàn nhìn anh.
– Ban cấm can thiệp, – anh nói. – Thì người của Ban phải đi để thấy làng can thiệp như thế nào. Để mai kia tôi không phải viết cái tôi không thấy.
– Tôi.
Cả sân quay lại. Chú Nghiệp đã bước lên một bước.
– Tôi mở nó ra, – chú nói. – Tôi đi đóng nó lại. Tôi biết cái thang, tôi biết cái nắp. Tôi xuống ao ấy ba lần, nhiều hơn ai ở đây trừ thầy.
Không ai nói gì. Người ta nhìn bà Nhàn. Bà Nhàn không nhìn chú Nghiệp. Bà nhìn sang góc đình, chỗ ông nội ngồi.
– Lần này để nó đi, – ông nói.
Rồi ông nói thêm, trước khi ai kịp hỏi:
– Còn ông thì ngồi ở miệng khe. Trên cái ngách ở hầm Bốn. Ông ngồi đấy giữ dây.
– Không được, – bác Lụa nói ngay. – Anh mới ra viện. Anh bảy mươi bảy tuổi. Anh ngồi một ngày trong cái hầm âm sáu mươi độ thì…
– Thì ông chết ở đấy, – ông nói, bình thản. – Lụa ạ, mười bốn năm ông giữ cái nắp ấy. Bây giờ người ta xuống mở nó ra để cứu làng. Ông không ngồi ở nhà được.
Bác Lụa nhìn ông. Rồi bác quay đi, không nói thêm.
Bà Nhàn chia việc. Anh Lành ngồi với ông ở miệng khe, giữ dây, giữ đường cáp tin mới kéo từ giếng vào hầm Bốn, kéo tiếp xuống tận chân thang. Tấn với một thợ máy lái con Voi ở mặt đất. Bố Đòng, chân còn chưa đi được, ngồi ở nhà Mõ, nghe Mõ, nói với Voi. Bác Lụa chờ ở Cửa Đình với cả trạm y tế.
Chiều hôm ấy, con Voi số hai bò ra khỏi xưởng lớn, bò qua gần ba cây số bình nguyên, tới chỗ Đòng đã cắm cờ. Chỗ ấy cách cái tháp Giếng Băng bốn trăm hai mươi mét về phía đông nam, trên một khoảng đất bằng phủ bụi mới. Nắng đã trong. Đồng Gương lên được bảy mươi phần trăm. Bầu trời màu bơ sữa, lần đầu tiên sau gần một tháng, có một màu xanh lam mỏng ở phía chân trời đông.
Bốn giờ chiều, Tấn hạ cái vòi xuống. Đầu nhiệt đỏ rực, chạm vào đất. Đất đá trộn băng sôi lên thành một cột hơi trắng, đông lại ngay thành bụi băng lấp lánh, rơi lả tả quanh con Voi. Rồi cái vòi bắt đầu chìm xuống, chậm, đều, như một cái kim nóng chìm vào miếng mỡ đông.
– Mõ xin báo, – giọng Mõ vang trong mũ Đòng. – Voi số hai đã khoan được ba mét. Tốc độ hiện tại: mười một mét một giờ.
Đêm hôm ấy, Đòng ngồi trong xưởng lớn với anh Lành, lắp cái cột phát âm tới quá nửa đêm.
Nó là một cái cột thép dài bằng một sải tay, một đầu nhọn để cắm vào băng, đầu kia có một cái búa điện nhỏ bọc trong vỏ kín, chạy bằng pin, gõ được ba ngày. Cái búa gõ vào thân cột, thân cột truyền tiếng vào băng. Sáu cái tai trên cái chuông của con Voi sẽ nghe thấy nó, cách mấy chục mét băng.
– Gõ đều một tiếng một giây là được, – anh Lành bảo.
– Không được, – Đòng nói. – Dưới ấy cái ao đang nện liền không nghỉ. Gõ đều thì con Voi lẫn tiếng cột với tiếng ao.
Cô ngồi nghĩ một lúc. Rồi cô mở cái bảng điều khiển nhỏ của búa điện, đặt lại nhịp. Không phải một tiếng. Hai tiếng. Một tiếng to, rồi nửa nhịp sau, một tiếng nhỏ hơn. Một tiếng to, một tiếng nhỏ. Ba lần, rồi dừng.
Cô bấm thử. Cái búa gõ vào thân cột thép trên bàn thợ.
Bộp, cạch. Bộp, cạch. Bộp, cạch. Dừng.
Anh Lành nhìn cô.
– Cái nhịp gì đấy?
– Giã đôi, – cô nói. – Ông cháu dạy. Đất không bao giờ nện như thế. Đất chỉ có một chày.
Cô ngẩng lên. Ông nội đứng ở cửa phụ của xưởng lớn từ lúc nào, chống gậy, nhìn cái cột thép trên bàn. Ông không nói gì. Nhưng Đòng thấy cái cười móm của ông, lần đầu tiên sau nhiều tuần.
– Mõ xin báo, – cái loa trên trần nói. – Voi số hai đã xuống được một trăm lẻ tám mét. Đầu khoan gặp lớp đá. Tốc độ giảm còn hai mét một giờ.
Ông nội vẫn đứng ở cửa. Rồi ông nói, không nhìn cô, nhìn cái cột:
– Con bé. Lúc ở dưới ấy mà không nói được với nhau, thì con nhớ cái gì ông dạy con đêm mùng hai.
– Cháu nhớ.
– Ông nện thì con nhấc. Ông nhấc thì con nện. – Ông gõ đầu gậy xuống sàn thép, một tiếng. – Một người không giã đôi được.
— Hết chương 29 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe