Chương 17: Đêm trước khi xuống
– Ông con bắt bố đặt tay lên cái chày mà thề, – bố nói.
Bố nằm ngửa trên giường trạm y tế, hai chân gác lên một cái gối độn, quấn băng tới đầu gối. Thuốc an thần đã hết tác dụng từ chiều. Mắt bố tỉnh, nhưng mặt bố xám, già đi cả chục tuổi trong ba ngày. Ngoài cửa sổ trạm y tế, trời giả đã chuyển mức đêm, màu lam thẫm. Bên kia tấm rèm, giường ông nội đã trống. Bác Lụa cho ông về nhà từ chiều, sau cuộc họp.
– Năm sáu mốt, – bố nói. – Tháng Tư. Bố nhớ vì hôm ấy là hôm làng gặt vụ thứ ba mươi. Ông con xuống hầm Bốn từ sáng, một mình. Hồi ấy ông hay đi một mình. Ông bảo ông theo một vỉa băng sạch. Tới chiều ông lên, mặt ông trắng như vôi. Ông không nói gì với ai, chỉ gọi bố với thằng Nghiệp vào nhà, đóng cửa.
Đòng ngồi im. Cô sợ chỉ cần thở mạnh là bố sẽ thôi nói.
– Ông bảo: ông khoan trúng túi khí. Ông bảo dưới ấy nguy hiểm. Phải bịt ngay, phải đóng hầm. Đêm ấy ba người xuống. Bố đổ nước bịt lỗ, đổ từng lớp, đợi đông, đổ lớp nữa. Bốn mét. Thằng Nghiệp hàn khung cửa. Ông con sơn chữ. – Bố nhìn lên trần. – Bố có thấy cái lỗ. Bố chỉ thấy cái lỗ, tối om, hơi lạnh bốc lên. Bố không thấy túi khí nào. Nhưng ông bảo thế thì bố tin thế.
– Rồi ông bắt bố thề.
– Lúc lên. Ông bảo bố với thằng Nghiệp vào nhà, ông lấy cái chày ra, đặt lên bàn. Bảo đặt tay lên. Bảo thề: không bao giờ mở cái hầm ấy ra, không bao giờ để ai mở. – Bố nhắm mắt. – Bố thề. Cả đời bố chưa thề cái gì. Bố thề trên cái chày của bà cố.
– Bố có bao giờ hỏi ông không?
– Không. – Bố mở mắt nhìn cô. – Con hỏi ông con bao giờ chưa? Hỏi thật, hỏi một câu mà ông không muốn trả lời ấy. Ông nhìn con như thế nào?
Đòng không trả lời. Cô biết cái nhìn ấy. Cô đã thấy nó trong ngách băng ở hầm Bốn.
– Bố là con ông, – bố nói. – Bố không hỏi.
– Hôm nọ bố nói mê, – Đòng nói. – Bố nói ông bảo: đừng cho ai thấy cái ao.
Bố nhìn cô, ngơ ngác một lúc, như người cố nhớ lại một giấc mơ.
– Có à. – Bố im. – Ừ. Đêm ấy, bịt xong, ông con đứng nhìn cái lỗ rất lâu. Rồi ông lẩm bẩm: đừng cho ai thấy cái ao. Bố tưởng ông nhớ cái ao làng ngoài quê. Mười bốn năm bố vẫn tưởng thế.
Hai bố con ngồi im một lúc. Ở dưới sàn, đất nện ba cái. Cái chậu nước ở chân giường gợn sóng. Bố nhìn mặt nước gợn rồi lặng.
– Bố, – Đòng nói. Cô không định hỏi câu này. Nó tự ra. – Sao mẹ không về?
Bố quay đầu nhìn cô. Lâu.
– Mẹ con không bỏ đi, – bố nói.
– Con biết mẹ ốm…
– Không. Con không biết. – Giọng bố không to, nhưng chắc như đóng cọc. – Năm sáu ba, mẹ con mất xương nặng. Đẻ con xong mẹ đã yếu, mười một năm ở đây thì xương mẹ như cái bánh đa. Rồi thận mẹ hỏng. Bác Lụa bảo ở lại thì mẹ chết. Có y lệnh của Ban. Mẹ con khóc cả tuần, không chịu đi. Hôm đi, bố phải dìu mẹ ra tới xe.
Đòng ngồi cứng đờ.
– Về tới dưới, mẹ nằm viện tám tháng. Tập đi lại từ đầu. – Bố nuốt nước bọt. – Rồi mẹ nộp đơn lên lại. Năm sáu sáu. Bị trả về. Năm sáu tám. Bị trả về. Năm bảy mươi, bảy hai, bảy bốn. Lần nào cũng thế. Năm lần.
– Năm lần?
– Năm lần. – Bố nhìn cô. – Bố tưởng con biết. Mẹ con có nói trong thư.
Đòng không nói được gì. Cô chưa mở những lá thư ấy. Hơn sáu trăm lá thư, tuần nào cũng một lá, mười hai năm. Cô chỉ mở những lá gần đây, những lá có tiếng mưa. Những lá đầu tiên, những lá năm sáu ba, sáu tư, sáu lăm, cô chưa từng mở. Năm mười tuổi cô đã bảo Mõ cất chúng vào một chỗ mà cô không bao giờ phải nhìn thấy.
– Người ta trả đơn vì sao hả bố?
– Bảo là sức khoẻ không đủ. – Bố quay mặt đi. – Bố không biết hết. Bố chỉ là thằng đào băng. Giấy tờ bố không rành.
Cô ra khỏi trạm y tế lúc gần mười giờ.
Cô không về thẳng nhà. Cô vào nhà Mõ, ngồi xuống cái ghế quen, và nói với Mõ một câu mà mười hai năm nay cô chưa nói.
– Mõ. Mở thư của mẹ cháu. Từ lá đầu tiên.
– Mõ xin hỏi lại: lá đầu tiên mẹ cô gửi sau khi về tới Trái Đất là lá ngày mười hai tháng Ba năm hai nghìn không trăm sáu mươi tư. Những lá gửi từ trên tàu, Mõ để riêng. Cô Đòng có chắc không?
– Chắc.
Màn hình sáng lên.
Mẹ cô nằm trên một cái giường bệnh trắng. Phía sau là cửa sổ, ngoài cửa sổ là những tán cây xanh rì, xanh tới mức Đòng phải nheo mắt, một thứ xanh mà cô chỉ từng thấy trên ruộng lúa lúc mới cấy. Mẹ gầy rộc. Tóc mẹ cắt ngắn. Hai cánh tay mẹ đặt trên chăn như hai que củi.
– Con ơi. – Giọng mẹ yếu, khàn. – Mẹ về tới rồi. Mẹ nằm ở Vĩnh Giang. Ở đây nặng lắm con ạ. Cái gì cũng nặng. Mẹ nhấc cái cốc lên mà như nhấc cục đá. Mẹ nằm cả ngày không ngồi dậy được. – Mẹ cười, cái cười méo đi. – Nhưng bác sĩ bảo mẹ tập được. Mẹ sẽ tập. Mẹ tập đi lại như em bé tập đi. Mẹ khoẻ rồi mẹ lên với con. Con chờ mẹ nghen.
Lá thứ hai. Mẹ ngồi được, tựa lưng vào gối. Lá thứ năm. Mẹ đứng được, hai tay bám vào một cái khung nhôm có bánh xe, hai chân run lẩy bẩy, một người y tá đỡ bên cạnh. "Con xem nè, mẹ đứng được rồi nè." Lá thứ mười. Mẹ đi được ba bước. Lá thứ hai mươi. Mẹ đi được hết hành lang bệnh viện, chậm, nghiêng ngả, rồi quay lại máy, thở hổn hển, cười. "Mẹ sắp được ra viện rồi. Ra viện rồi mẹ làm đơn lên với con."
Đòng xem tới lá thứ ba mươi thì cô không nhìn thấy màn hình nữa. Cô cúi gục xuống bàn. Vai cô rung lên. Cô không phát ra tiếng nào. Ở làng này người ta học khóc không ra tiếng từ nhỏ, vì vách nhà mỏng, và vì khóc to thì Mõ sẽ hỏi có cần gọi bác Lụa không.
Mõ không hỏi. Mõ để màn hình dừng lại ở khuôn mặt mẹ, và hạ đèn trong phòng xuống một nấc.
Một lúc lâu sau, cô ngẩng lên.
– Mõ. Có cái nút trả lời không?
– Có. Cô Đòng có muốn ghi thư không?
Cô nhìn khuôn mặt mẹ trên màn hình. Cô mở miệng. Rồi cô đóng lại.
– Chưa, – cô nói. – Mai. Mai cháu xuống mỏ đã. Cháu muốn biết hết rồi mới nói với mẹ.
Trên đường về, bảng tay của cô kêu lên. Một dòng chữ của anh Khiêm.
"Mai tôi đi. Tôi đã xin ôn. Ôn cho."
Cô đứng lại giữa hành lang lưới thép, gõ trả lời: "Anh sẽ viết gì vào báo cáo?"
Một lúc lâu mới có chữ hiện lên.
"Cái tôi thấy. Không hơn, không kém. Nhưng tôi sẽ thấy trước, rồi mới viết. Không viết trước rồi mới thấy."
Cô đọc dòng ấy hai lần. Rồi cô gõ: "Anh có sợ không?"
"Có. Tôi sợ cái giếng. Tôi sợ ôn ngã. Tôi sợ cái mà ôn giữ mười bốn năm. Còn em?"
Đó là lần đầu anh gọi cô là em. Cô nhìn chữ ấy rất lâu trên màn hình nhỏ. Rồi cô tắt bảng tay đi, không trả lời, và đi tiếp. Nhưng cô đi chậm hơn.
Cô về nhà gần nửa đêm.
Đèn buồng ông nội còn sáng. Cửa khép hờ. Cô đứng ngoài khe cửa nhìn vào.
Ông ngồi trên mép giường, cái chày lim đặt ngang trên đùi. Bên cạnh ông là một cái lọ nhỏ đựng dầu, thứ dầu ép từ hạt vừng trồng trong vườn ươm, mà mỗi năm một lần, trước Tết, ông vẫn dùng để lau cái chày. Ông nhúng một mảnh vải vào dầu, rồi lau. Chậm. Từ đầu này sang đầu kia. Từ chỗ thắt giữa ra hai đầu to. Gỗ lim đen bóng lên dưới tay ông, những thớ gỗ cuộn như vân nước. Lau xong một lượt, ông lật cái chày lại, lau mặt kia.
Bên cạnh giường là cái túi đồ đi mỏ của ông, loại túi đời cũ, vải bạt màu xám, đã mở sẵn miệng.
– Ông, – cô nói qua khe cửa.
Ông không giật mình. Ông không ngẩng lên.
– Vào đây.
Cô vào, ngồi xuống cái ghế đẩu đối diện ông.
– Ông mang cái chày xuống mỏ làm gì?
– Đi đâu thì mang theo, – ông nói. – Bà cố ông dặn thế.
– Ông đi đâu? Ông chỉ xuống Giếng Băng thôi mà.
Ông dừng tay. Ông nhìn cái chày trên đùi, rồi nhìn cô.
– Mười bốn năm nay ông chưa đi đâu xa như thế, – ông nói.
Ông đặt cái chày vào túi đồ, cẩn thận như đặt một đứa trẻ vào nôi, lấy tấm vải bọc quanh, kéo khoá túi lại.
– Thằng Nghiệp xin đi theo, – ông nói, như nói chuyện trời mưa. – Chiều nay nó đến đây. Nó bảo nó đi để đỡ ông. Bảo ông yếu, bò không nổi. Ông bảo được.
– Ông cho chú ấy đi?
– Nó biết đường. Năm sáu mốt nó đi cùng ông. – Ông nhìn cô. – Con bé, con có nghĩ là nó không?
Đòng không trả lời. Cô không biết ông hỏi "nó không" là nó không gì. Không biết đường? Không nên đi? Không phải là người mở cái nút? Cô nhìn ông, và lần đầu tiên cô thấy rằng có thể chính ông cũng không biết mình đang hỏi gì.
– Đi ngủ đi, – ông nói. – Năm giờ sáng đi.
Cô ra khỏi buồng ông. Trước cửa nhà cô, trên bậc thềm lưới thép, có một người nhỏ đang ngồi bó gối.
– Mít?
Thằng bé ngẩng lên. Mắt nó đỏ. Nó đứng dậy, chìa ra một cái gì đó cuộn tròn, buộc bằng sợi chỉ len đỏ.
– Chị cầm hộ em, – nó nói. – Tờ cá của em. Em gỡ ra rồi.
– Sao em gỡ ra?
– Bố em bảo mai bố đi với ông Thiệp. Xuống mỏ. – Nó nói nhanh, giọng run. – Em hỏi bố đi đâu, bố không nói. Bố ôm em lâu lắm. Bố chưa bao giờ ôm em lâu thế. Em sợ. Em không muốn vẽ cá nữa. Chị cầm hộ em.
Đòng nhận cuộn giấy. Nó nhẹ hều. Cô quỳ xuống, ôm thằng bé. Người nó gầy, xương vai nhô lên dưới lớp áo, nhẹ như một cái lồng chim.
– Chị đi cùng bố em, – cô nói. – Chị trông bố em cho.
– Chị hứa?
– Chị hứa.
Thằng Mít chạy về nhà, nhảy ba bậc một, nhẹ như chiếc lá. Đòng đứng dậy, cầm cuộn giấy cá trong tay. Cô vào nhà, đặt nó lên bàn, cạnh cái lọ thuỷ tinh rửa sạch mà cô đã lấy ra từ tủ bếp, rồi ngồi xuống giường.
Cái loa trên trần sáng lên trước khi cô kịp nằm.
– Mõ xin báo: khoảng cách trung bình giữa các chuỗi chấn động trong mười hai giờ qua là bốn phút năm mươi giây. – Mõ ngừng một nhịp. – Cô Đòng ngủ đi. Mai cô còn đi xa.
— Hết chương 17 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe