AI Truyện
Làng lúa dưới hoàng hôn xanh

🚀 Khoa học viễn tưởng

Cấp ba

Làng lúa dưới hoàng hôn xanh · Chương 23/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 23: Cấp ba

Còi rúc lúc mười một giờ năm mươi hai phút trưa ngày hai mươi lăm.

Không phải tiếng còi ngắn dài ngắn của đêm màng thủng. Đây là một tiếng còi dài, đều, không ngắt, kéo suốt ba mươi giây. Hai mươi ba năm nay làng chỉ nghe tiếng ấy trong những buổi diễn tập đầu năm, khi trẻ con cười khúc khích còn người lớn thì càu nhàu vì phải bỏ dở việc. Lần này không đứa trẻ nào cười.

– Mõ xin báo: khí các-bon ở dãy nhà số năm đã lên ba phẩy không bốn phần trăm, vượt ngưỡng nguy hiểm ở khu vực có người ở. Theo quy định, Mõ chuyển sự cố sang cấp ba. – Giọng Mõ vang khắp hang, từ mọi cái loa cùng một lúc. – Người ở dãy nhà số năm, đeo mặt nạ thở, di chuyển lên phía bắc theo hành lang chính. Không ai quay lại lấy đồ. Nhắc lại…

Đòng đang ở bậc Ba. Cô chạy xuống.

Dãy nhà số năm bám vào vách nam của hang, ngay trên bậc Hai, là dãy nhà mới nhất, dựng năm sáu chín khi làng đông lên. Bốn mươi mốt người. Khi Đòng tới chân cầu thang, người ta đã bắt đầu đi ra, từng tốp, đeo mặt nạ. Chị Mận ôm thằng con hai tuổi trong ngực, nó khóc thét lên vì cái mặt nạ trẻ con ụp kín mặt. Cụ Tư không chịu bỏ lại cái giỏ trứng, ôm nó đi từng bước, run run. Ai đó đỡ lấy cái giỏ cho cụ. Một ông cụ khác đi không nổi, Tấn cõng.

Không ai chạy. Đó là điều Đòng nhớ mãi về buổi trưa hôm ấy. Hai mươi ba năm diễn tập, người làng không chạy. Họ đi, nhanh và lặng, như nước tháo qua một cái cống mở sẵn.

Họ dồn lên hai chỗ. Người già và trẻ nhỏ lên Vòm Đình, nơi không khí lấy thẳng từ trạm khí, sạch nhất làng. Những người còn lại vào Nhà Tàu.

Nhà Tàu là cái mô-đun đầu tiên của làng, cái vỏ thép tròn mà bốn mươi người năm năm hai đã sống trong đó suốt một năm trước khi lót xong màng cho Hang Cái. Nó nằm vùi nửa trong đá ngay cạnh Cửa Đình, có cửa kín riêng, có quạt khí riêng. Bao năm nay nó là cái kho chứa áo ngoài cũ, chăn cũ, mấy cái giường tầng gỉ. Chú Nghiệp đã cho người dọn nó từ hôm hội đồng nghe đề nghị về khu trú ẩn. Bây giờ người ta trải chăn xuống sàn, ngồi sát vai nhau, và cái mùi sắt cũ hoà với mùi người.

Chiều hôm ấy, hội đồng họp khẩn ở nhà Mõ.

Mười một người, cộng thêm ba người không có quyền biểu quyết: bác Lụa, Đòng, và ông nội ngồi xe lăn. Bà Nhàn không gõ bút. Cây bút của bà đã gãy làm đôi hôm họp về hai chiếc khoá, bà chưa có cái mới.

– Anh Khiêm, – bà nói. – Anh nói trước.

Anh Khiêm đứng dậy.

– Theo quy định an toàn của Ban, khi sự cố chuyển cấp ba, đại diện Ban bắt buộc đề xuất sơ tán toàn bộ khu định cư. Tôi không được chọn. – Anh nhìn quanh bàn. – Báo cáo của tôi sẽ có đề xuất ấy. Nhưng có một việc khác hội đồng phải biết trước, vì nó cũng sẽ nằm trong báo cáo, và hạn của nó là tối thứ Hai.

Anh quay sang góc phòng, nhìn ông nội.

Ông gật đầu.

– Hội đồng thì phải biết trước, – ông nói. – Làng thì để Rằm, ông nói.

Anh Khiêm nói. Anh nói như anh vẫn nói, mỗi câu như đặt xuống một cái chén. Cái ao dưới đáy hầm Bốn. Ba trăm bốn mươi mét. Những bông sen đỏ. Mẫu vật. Bác Lụa soi. Hai đường kẻ trên màn hình, đường trắng nằm ngang, đường đỏ cúi xuống. Bốn phần trăm khí các-bon trong tám tiếng. Mười chín giờ bốn mươi phút ngày hai mươi mốt. Bảy ngày. Rồi anh chiếu những tấm ảnh chụp trong lòng chảo băng lên vách. Rồi tấm ảnh mờ của mẹ Đòng chụp năm sáu hai.

Không ai nói gì rất lâu.

– Sống thiệt hả? – cuối cùng cô Ba Huệ hỏi, giọng nhỏ xíu, không giống giọng cô.

– Sống, – bác Lụa đáp.

– Trời đất ơi, – cô Ba nói. Lần này cô nói chậm, từng chữ, không như mọi khi. – Trời đất ơi.

Anh Lành, người thợ hàn ít nói, người đã không giơ tay hôm biểu quyết cho Mõ nêu khoá, quay sang nhìn ông nội. Anh nhìn lâu. Đòng chờ anh nói một câu giận dữ. Anh không nói gì. Anh chỉ lắc đầu, rất chậm, như người đứng trước một cái giếng sâu mà không thấy đáy.

– Thế làng phải dời đi à? – chị Mận hỏi. Chị ngồi họp mà thằng con vẫn ngủ trong lòng.

– Công ước bắt làng trình phương án dời, – anh Khiêm nói. – Bắt trình, không bắt dời ngay. Còn dời hay không, dời bao giờ, là việc Ban quyết. Tôi không biết Ban sẽ quyết gì.

– Ban ở cách đây hai mươi phút ánh sáng, – bà Nhàn nói. – Ban nghỉ Tết. Mà cái ao thì đang thở ngay dưới chân mình. – Bà nhìn sang Đòng. – Con Đòng. Bà biết con có cái gì muốn nói. Mặt con như cái nồi sắp sôi từ sáng.

Đòng đứng dậy.

Cô đã thức gần hết đêm qua. Cô đã nằm nghĩ cái câu ông nói dưới đáy giếng, như rượu nếp đậy nút ủ trong vò. Cô đã nghĩ tới cái lỗ khoan ba mươi phân trong hầm Bốn, tới những khe nứt toả ra như rễ cây dưới bậc Hai, bậc Ba. Cô đã nghĩ tới câu mẹ nói. Cái gì sống thì phải ở gần chỗ có dòng chảy. Và cô đã nghĩ tới một việc mà người coi mương nào cũng biết: khi nước dồn vào một chỗ mà không thoát được, thì người ta không đắp bờ cao thêm. Người ta mở một cái cống ở chỗ khác.

– Cái ao như cái chai bị lắc, – cô nói. – Khí trong nước muốn ra. Bây giờ nó chỉ có một chỗ để ra, là cái lỗ khoan cũ trong hầm Bốn. Mà cái lỗ ấy dẫn vào các khe nứt chạy về phía làng. Nên nó ra phía làng. Muối lên bậc Một, bậc Hai, khí lên dãy nhà số năm.

Cô bảo Mõ chiếu tấm bản đồ lên vách. Vệt đỏ dài tám trăm mét. Nhánh Rồng Ngủ. Những vệt muối như rễ cây. Và ở cuối vệt, dưới Giếng Băng, một cái vòng tròn mà Mõ mới vẽ thêm từ số đo tiếng vọng: cái ao.

– Cháu đề nghị mở cho nó một cái cống khác, – cô nói. – Ở đây. – Cô chỉ vào mép đông của cái vòng tròn. – Mạn đông của cái ao. Khoan từ mặt đất xuống thẳng vào đó. Một cái ống to bằng bắp chân. Cái ao sẽ thở ra qua cái ống ấy, lên mặt đất, cách làng hơn hai cây rưỡi. Khí ra đằng ấy thì không chui vào khe về làng nữa. Áp suất trong ao tụt xuống. Khi nó tụt xuống rồi, mình xuống bịt lại cái lỗ khoan cũ. Lần này bịt được, vì không còn cái gì đẩy bật nút ra.

– Rồi cái ống xả? – anh Lành hỏi. – Để nó phụt mãi à?

– Không. Mặt đất âm tám chín chục độ. Nước muối lên tới gần miệng ống thì đông lại. Khí ra hết thì nước muối không lên nổi nữa. Nó tự đóng băng thành một cái nút. – Cô dừng. – Cháu không chắc bao lâu. Mấy ngày. Có khi một tuần.

– Tại sao lại mạn đông? – anh Khiêm hỏi, dù Đòng biết anh đã đoán ra.

– Vì mạn đông không có sen.

Cô kể. Mẹ cô kể, ông cô kể cho mẹ cô năm sáu hai. Sen chỉ mọc ở mạn tây, chỗ có khe nứt, nước chảy. Mạn đông là chỗ nước tù, băng trắng, không có gì sống.

Mọi người quay về phía góc phòng.

– Đúng, – ông nội nói. Ông nói rất khẽ. – Mạn đông không có gì. Ông đi tới tận vách. Băng trắng như vôi.

– Nhưng khoan từ mặt đất xuống ba trăm mét thì không đi thẳng được, – Đòng nói tiếp. – Mũi khoan nhiệt đi trong băng hay bị trôi. Trôi một chút ở trên thì xuống tới dưới lệch cả chục mét. Lệch về phía tây là vào giữa sen. Lệch lên trần là có khi sập cả trần ao. Phải có cái dẫn đường. – Cô nhìn chú Nghiệp. – Phải có người xuống ao, đặt một cái cột phát âm ở mạn đông. Cái cột cứ gõ đều vào băng. Con Voi ở trên nghe tiếng mà lần xuống.

Chú Nghiệp không nhìn bản đồ. Chú nhìn cô.

– Có ai thấy được cái gì sai trong cái này không? – bà Nhàn hỏi cả bàn.

– Có, – anh Khiêm nói. – Không sai. Nhưng có cái giá. Khi cái ống thông vào ao, nước sẽ chao, khí sẽ ra rất mạnh. Sen ở mạn đông không có, nhưng sen ở giữa ao thì có. Áp suất tụt nhanh, mình không biết chúng chịu được không. Có thể sẽ chết một phần. – Anh dừng. – Và Công ước cấm can thiệp vào nơi có sự sống khi chưa có phép của Ban.

– Nếu không làm, – Đòng nói, – thì cái nhịp sẽ liền vào hai mươi tháng Chạp. Mõ tính thế. Khi nó liền, mình không biết cái gì sẽ xảy ra. Có khi cả cái trần ao sập. Khi ấy thì sen nào cũng chết, làng cũng chết.

Không ai cãi câu ấy.

– Anh Nghiệp, – bà Nhàn nói. – Anh là kỹ sư trưởng. Làm được không?

Chú Nghiệp im một lúc lâu. Rồi chú đứng dậy, đi tới bức vách, nhìn cái vòng tròn của Mõ.

– Được, – chú nói. – Con Voi số hai đang nằm trên bãi ở miệng Giếng Băng, chờ thay xích, mũi nhiệt còn tốt. Kéo nó về xưởng lớn, lắp cuộn cáp nhiệt nối dài, lắp đầu dò âm. Trong băng sạch nó đi được mười hai mét một giờ. Chỗ đá thì chậm. Ba trăm ba mươi mét, cộng chỗ đá, cộng lúc dò đường, chừng hai ngày rưỡi. – Chú quay lại. – Chuẩn bị mất năm sáu ngày.

– Anh Khiêm, – bà Nhàn nói. – Anh bảo phải xin phép Ban.

– Tôi xin hội đồng một việc. – Anh Khiêm đặt hai bàn tay lên bàn. – Cho tôi gửi ba thứ trong cùng một bản, cùng một lúc, tối thứ Hai. Cái ao. Đề xuất sơ tán mà quy định bắt tôi phải viết. Và phương án của làng, có chữ ký của hội đồng. Để người ở Vân Cảng đọc cái thứ nhất thì phải đọc luôn cái thứ ba. Không ai được đọc một mình cái giữa.

Bà Nhàn nhìn quanh bàn.

– Ai đồng ý thì giơ tay.

Mười một cánh tay. Lần này anh Lành giơ trước.

– Chuẩn bị con Voi ngay từ mai, – bà Nhàn nói. – Chờ Ban trả lời. Nếu cái nhịp tụt nhanh hơn Mõ tính, thì không chờ. Chuyện cái ao, ai ngồi ở đây thì giữ trong mồm tới Rằm. Ông Thiệp đã xin hội đồng điều đó. Tan.

Sáng hai mươi sáu, con Voi số hai được kéo về từ bãi Giếng Băng.

Nó dài gấp rưỡi xe Trâu, nằm thấp trên bốn dải bánh xích, cái vòi khoan nhiệt gập dưới bụng như vòi con voi thật đang cuộn lại. Phải dùng cả hai cái xe Trâu kéo nó qua gần ba cây số bão bụi về Cửa Đình. Xưởng lớn nằm ngay cạnh Nhà Tàu, là cái gian kín áp duy nhất của làng đủ rộng cho một con Voi chui vào. Có hai cửa: cửa lớn mở ra khoang điều áp của xe, và một cái cửa phụ nhỏ thông vào hành lang Cửa Đình.

Cả ngày hôm ấy, xưởng lớn sáng đèn. Chú Nghiệp, anh Lành, hai thợ máy khác và Đòng làm từ sáng tới tối. Họ tháo cái vòi khoan, thay đầu nhiệt mới, lắp cái tang cuốn cáp nhiệt dài bốn trăm mét. Đòng đi theo chú Nghiệp như cái bóng. Cô nhìn chú làm. Hai bàn tay quấn băng của chú vẫn nhanh như người nhặt rau, không thừa một động tác. Nhưng có lúc chú đứng lại, tay cầm cái cờ lê, nhìn vào cái đầu nhiệt mới như nhìn vào mặt một người.

Chập tối, ông nội tới.

Ông đi bộ, không ngồi xe lăn. Một tay chống gậy, một tay vịn vách, đi từng bước từ nhà lên xưởng lớn, mất gần nửa tiếng. Ông đứng ở cửa phụ, nhìn con Voi đang nằm trên giá.

Chú Nghiệp đặt cái cờ lê xuống, đi lại phía ông.

– Thầy, – chú nói. – Tôi xin thầy một việc. Hôm khoan, cho tôi lái con Voi.

Cả xưởng im đi. Anh Lành ngừng tay. Đòng ngừng tay.

Ông nội nhìn chú Nghiệp. Ông nhìn lâu, giống hệt cái nhìn dưới đáy giếng, khi bàn tay chú dừng lại cách mặt cái chày một đốt ngón tay.

– Không, – ông nói.

— Hết chương 23 —

Mục lục Làng lúa dưới hoàng hôn xanh

  1. 1Tiếng giã gạo lúc nửa đêm8 phút
  2. 2Muối ở gốc lúa11 phút đọc
  3. 3Hoàng hôn xanh11 phút đọc
  4. 4Mộ của người đi trước10 phút đọc
  5. 5Vết nứt dưới bậc Một10 phút đọc
  6. 6Lọ nước biến mất11 phút đọc
  7. 7Xuống Giếng Băng11 phút đọc
  8. 8Đường hầm số bốn10 phút đọc
  9. 9Lỗ khoan không có trên bản đồ11 phút đọc
  10. 10Ông nội ở cuối hầm11 phút đọc
  11. 11Bão bụi11 phút đọc
  12. 12Đứa trẻ đếm nhịp11 phút đọc
  13. 13Nhánh hang không tên11 phút đọc
  14. 14Nước mặn không đóng băng10 phút đọc
  15. 15Cái ao11 phút đọc
  16. 16Hai chiếc khoá10 phút đọc
  17. 17Đêm trước khi xuống10 phút đọc
  18. 18Đáy cái giếng11 phút đọc
  19. 19Mười bốn năm12 phút đọc
  20. 20Điều thứ chín12 phút đọc
  21. 21Lá thư mẹ không gửi10 phút đọc
  22. 22Hai mươi phút10 phút đọc
  23. 23Cấp ba11 phút đọc
  24. 24Rằm tháng Chạp10 phút đọc
  25. 25Người làng cãi nhau10 phút đọc
  26. 26Con voi gãy vòi10 phút đọc
  27. 27Gặt sớm12 phút đọc
  28. 28Chiếc khoá thứ ba11 phút đọc
  29. 29Ông Công ông Táo10 phút đọc
  30. 30Xuống lần cuối11 phút đọc
  31. 31Nhịp chày10 phút đọc
  32. 32Người ở lại11 phút đọc
  33. 33Mũi khoan từ trời10 phút đọc
  34. 34Ra khỏi lòng đất10 phút đọc
  35. 35Tất niên10 phút đọc
  36. 36Mưa xuân trên sao Hoả10 phút đọc

Về truyện này

Làng lúa dưới hoàng hôn xanh là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →