Chương 10: Ông nội ở cuối hầm
– Tắt cái đèn chụp ấy đi, – ông nội nói. – Chói mắt ông.
Giọng ông vang trong mũ Đòng, rè rè, méo mó, vì bộ đàm của bộ áo đời cũ không cùng loại với bộ đàm bây giờ, chỉ bắt được trên một kênh chung. Nhưng đó là giọng ông. Chậm, quê, mỗi chữ như đặt một hòn gạch.
Anh Khiêm hạ cái bảng tay xuống. Đèn chụp tắt. Trong buồng băng chỉ còn ba luồng đèn trán: hai luồng trắng của Đòng và anh Khiêm, một luồng vàng yếu ớt của ông.
– Ông… – Đòng không biết mình định nói gì. – Ông xuống đây bằng cách nào?
– Bằng chân. – Ông cựa mình trên khối băng. – Đi thang lồng xuống, rồi bò. Bò mất nửa tiếng. Già rồi, bò cũng không xong.
– Ông bảy mươi bảy tuổi. Ông bị đột quỵ. Ông mặc cái áo này từ thời…
– Từ thời năm hai. – Ông vỗ vỗ lên đùi, lên lớp vải xám đã sờn. – Nó vẫn kín. Ông kiểm ba lần. Ông kiểm kỹ hơn chúng mày.
Đòng bước lại gần. Dưới ánh đèn trán, qua tấm kính mũ đã ngả vàng, cô thấy mặt ông. Ướt đẫm mồ hôi. Môi tím. Hơi thở của ông đi qua bộ đàm thành những tiếng rít ngắn, gấp. Bò nửa tiếng trong một đường hầm âm sáu mươi độ, ở tuổi ông, với một bên tay yếu. Cô quỳ xuống trước mặt ông, kéo cái ống dưỡng khí dự phòng từ áo mình ra, cắm vào ổ phụ trên áo ông.
– Không cần.
– Cần. Ông thở đi.
Ông im. Một lúc sau, tiếng rít trong bộ đàm dịu dần. Ông ngửa đầu tựa vào vách băng.
– Ôn ơi, – anh Khiêm nói. Đòng giật mình vì cái tiếng ấy, cái tiếng Hương Thành gọi ông mà cả làng chưa ai gọi. – Ôn ngồi đây từ lúc mô?
– Từ chín giờ. Ông đợi.
– Ôn đợi chi?
Ông không trả lời anh. Ông nhìn qua vai hai người, về phía cái lỗ khoan giữa sàn buồng. Đúng lúc ấy, mặt nước trong lỗ lại dâng lên, ba lần, hơi lạnh phụt qua cái lỗ nhỏ giữa nút băng, phoi băng trên sàn lại bay lên rồi rơi xuống.
– Ông đợi xem đứa nào mở cái nút, – ông nói.
Đòng nhìn ông. Cô đã định hỏi: có phải ông không. Nhưng nhìn mặt ông lúc nói câu ấy, nhìn cái cách hai mắt ông nheo lại khi mặt nước dâng lên, cô biết không phải. Ông không nhìn cái lỗ như người nhìn việc mình làm. Ông nhìn nó như người nhìn một vết thương trên người mình mà ai đó vừa rạch ra.
– Thế ông biết cái lỗ này từ trước.
– Ông khoan nó.
Câu ấy rơi xuống buồng băng. Không ai nhặt lên.
– Năm sáu mốt, – ông nói, chậm. – Hồi ấy làng thiếu nước, ông đi theo một vỉa băng sạch, đào hầm Bốn. Đến cuối hầm, ông khoan thăm dò xuống dưới. Khoan trúng. Rồi ông bịt. Bịt bằng băng, bốn mét. Rồi ông đóng hầm, sơn chữ lên cửa. Mười bốn năm. Mười bốn năm nó nằm yên.
– Khoan trúng cái gì?
Ông không trả lời.
– Bố cháu bảo hầm này không có chỗ sập. Bố bảo năm ấy bố đi qua hầm này với ông. Với chú Nghiệp. Bố bảo ông bắt bố thề…
– Bố mày nói nhiều quá. – Ông lắc đầu, nhưng không giận. – Thằng Sơn cả đời nói không được trăm câu, lại đi nói đúng mấy câu ấy.
– Ông, khoan trúng cái gì?
– Túi khí.
– Ông nói dối.
Ông quay nhìn cô. Hai mươi mốt năm, chưa bao giờ cô nói với ông câu ấy. Đèn trán vàng của ông chiếu thẳng vào kính mũ cô, chói, cô phải nheo mắt. Rồi ông hạ đầu xuống, đèn trán chiếu xuống sàn.
– Ừ, – ông nói. – Không phải túi khí.
– Thế là cái gì?
– Cho ông ba ngày.
– Ông…
– Ba ngày. – Ông giơ một ngón tay phải lên, ngón tay đi găng dày cộp run run. – Ba ngày nữa, ông nói. Ông nói hết. Ông nói với con, với anh thanh tra đây, rồi muốn nói với hội đồng thì nói. Nhưng ba ngày. Ông cần ba ngày.
– Để làm gì?
– Để nghĩ xem nói thế nào. – Ông cười, cái cười móm qua lớp kính mũ. – Có những chuyện ông giữ lâu quá, giờ mở mồm ra, ông không biết bắt đầu từ chữ nào.
Đòng quay sang anh Khiêm. Anh đứng im, bảng tay ôm trước ngực. Qua tấm kính mũ, cô thấy mặt anh căng ra, như người đang phải cầm hai cái chén đầy trên hai bàn tay.
– Ôn ơi, – anh nói, – cháu là người của Ban. Có người đã phá cái nút của một lỗ khoan, và cái lỗ khoan đó đang làm hại cả làng. Có người đang làm việc ni trong bóng tối. Cháu không có quyền giấu hội đồng.
– Ông không bảo anh giấu. Ông bảo anh đợi.
– Ba ngày nữa, nhịp sẽ còn chừng bảy phút. Ruộng bậc Một đã chết. Nếu muối lên bậc Hai…
– Anh đã thấy rồi đấy. – Ông chỉ cái gậy về phía miệng lỗ. – Anh xem kỹ vào. Xung quanh cái lỗ nhỏ.
Hai người cùng quay đèn trán lại. Đòng bước tới, cúi sát.
Lúc nãy, choáng vì cái lỗ, vì cột nước dâng, vì mảnh mũi khoan, cô không nhìn thấy. Bây giờ thì cô thấy. Quanh cái lỗ nhỏ khoan thủng giữa nút băng, có những vành băng khác. Mỏng, trong, mới. Không phải một vành mà nhiều vành, chồng lên nhau, vỡ nham nhở. Như người ta đổ nước vào cố bịt lại, nước đông rồi bị cái gì đó bên dưới đẩy bật lên, rồi người ta lại đổ, rồi lại bị đẩy bật. Có cả mấy mẩu băng to bằng nắm tay rơi vãi quanh miệng lỗ, mặt dưới còn hằn vết tròn của lỗ khoan. Những cái nút nhỏ, bị phụt ra.
– Có người đã thử bịt lại, – cô nói.
– Nhiều lần, – ông nói. – Hết đêm này sang đêm khác. Không được. Lỗ nhỏ thế, mà mỗi lần nó thở ra là nó đẩy bật hết. Đổ nước vào thì nước không kịp đông. Bây giờ nó còn mở rộng ra rồi. Thành lỗ mòn đi mỗi lần nước muối phụt qua.
– Ai thử?
– Thì cái đứa đã mở nó ra.
Đòng đứng thẳng dậy.
– Đứa nào mở nó ra rồi lại hối, – ông nói tiếp, như nói với chính mình. – Mở nó ra để làm gì, rồi thấy nó không như mình nghĩ, giờ hối, cứ dăm đêm lại mò xuống bịt, mà bịt không được. – Ông lắc đầu. – Đêm kia ông ngồi đây tới ba giờ sáng, không ai tới. Đêm qua cả làng còn thức vì chuyện thằng Tấn, ông không đi được. Đêm nay ông định đợi nó tới. Thì chúng mày tới.
– Đêm kia? – Đòng nhìn ông. – Còn đêm trước nữa…
– Đêm mùng sáu dương lịch ông không xuống. Đêm ấy ông bận. – Ông nhìn cô, và trong cái nhìn ấy có một cái gì giống như xin lỗi. – Đêm ấy ông vào phòng thí nghiệm của con.
Đòng không nói gì. Cô đã biết. Cô biết từ lúc thằng Mít tả cái áo mỏ xám đi chậm lắm. Nhưng nghe ông nói ra vẫn khác.
– Cái lọ ông lấy đâu rồi?
– Ông đổ đi rồi. Đổ xuống cống xả, cho chảy về bể lắng. Cái lọ ông rửa sạch, để trong tủ bếp nhà mình. – Ông thở dài. – Ông xin lỗi con bé. Ông không có cách nào khác.
– Tại sao?
– Ba ngày.
Lại câu ấy. Đòng biết ông. Khi ông đã nói một con số hai lần, thì có kéo cũng không ra con số khác.
Anh Khiêm đứng im rất lâu. Rồi anh nói, chậm:
– Ba ngày. Tới tối mười ba. – Anh nhìn ông. – Ôn ơi, cháu ghi chuyện tối ni vô nhật ký của cháu, đầy đủ, có giờ có phút. Cháu không xoá. Nhưng cháu chưa gửi. Tối mười ba, ôn không nói thì cháu nói.
– Được. – Ông gật. – Anh thanh tra là người nói được làm được.
– Cháu không phải người tốt chi mô, ôn. Cháu chỉ là người làm đúng quy trình.
– Thì càng hiếm.
Họ đưa ông ra. Đòng bò trước, anh Khiêm bò sau, ông ở giữa. Qua cái hang chui dưới bức tường băng, ông phải nằm sấp xuống, dùng một tay phải và hai đầu gối mà trườn từng chút. Đòng ở phía trước, nắm lấy cổ tay áo ông kéo. Anh Khiêm ở phía sau đẩy. Hai lần ông dừng lại, gục mũ xuống sàn băng, thở. Hai lần cô suýt bảo ông thôi để cô gọi người, rồi cô nhớ ra là không có người nào để gọi mà không phải kể chuyện đêm nay.
Ra khỏi hầm Bốn, anh Khiêm vặn lại ba con bu lông sáng loáng vào chỗ cũ. Ông đứng dựa vào khung lồng thang, nhìn anh làm.
– Vặn chặt vào, – ông nói. – Vặn như người ta chưa mở bao giờ.
– Rứa người kia đến thì sao?
– Thì nó lại mở. Nó có cờ lê. – Ông nhắm mắt. – Nhưng nó sẽ biết có người khác đã đến. Bu lông người khác vặn, người vặn quen tay sẽ biết.
Lồng thang chạy lên. Tấn trong buồng lái thấy ba cái mũ thay vì hai thì kêu lên một tiếng trong bộ đàm, rồi lặng đi khi nhận ra con số trên cái mũ thứ ba.
– Ông… ông Thiệp?
– Ừ. Lái cho ông về. Đừng hỏi gì. Chân mày sao rồi?
– Dạ… dạ đau.
– Đau thì im, cho khỏi mệt.
Đòng đứng sát ông trong lồng, một tay vịn khung, một tay đặt lên lưng áo ông. Lưng áo cũ, vải cứng, gồ lên ở chỗ bình dưỡng khí. Cô nghĩ tới ông năm năm hai, năm mươi lăm tuổi, mặc chính bộ áo này, bước xuống bình nguyên này đầu tiên trong bốn mươi người. Cô nghĩ tới ông năm sáu mốt, sáu mươi tư tuổi, khoan một cái lỗ ở cuối một đường hầm, rồi đứng nhìn xuống đó, và quyết định bịt nó lại. Cô không biết ông đã nhìn thấy gì dưới đó. Nhưng cô biết, như biết mặt nước trong mương sẽ chảy về phía nào, rằng ông đã nhìn thấy cái gì đó, và cái đó nặng tới mức ông mang nó suốt mười bốn năm mà không đặt xuống được.
Hai trăm mét. Một trăm tám mươi. Một trăm sáu mươi, hầm Hai trôi qua bên trái.
Rồi đèn trên nóc lồng chớp.
Một lần. Hai lần. Rồi tắt hẳn. Cái lồng thang khựng lại giữa lòng giếng, lắc nhẹ trên hai sợi cáp, rồi đứng im. Chỉ còn ba luồng đèn trán chiếu lên vách băng xanh. Ở đâu đó rất xa phía trên, qua vách băng, qua khung thép, cô cảm thấy một tiếng rè rè chạy qua cáp, như tiếng ong vỡ tổ.
– Tấn!
– Mất điện! – Giọng Tấn vỡ vụn trong bộ đàm. – Mất điện tháp! Bảng điều khiển tắt hết! Tao… để tao xem…
– Mõ!
Một lúc lâu không có tiếng trả lời. Rồi giọng Mõ vang lên, qua sợi cáp truyền tin chạy dọc vách giếng, nhỏ, đứt quãng:
– Mõ… xin báo: hai mươi ba giờ năm mươi mốt phút, một cơn bão bụi… đã tới khu vực làng, sớm hơn dự báo hai ngày. Gió ở rìa bão… mang tĩnh điện rất mạnh. Bộ bảo vệ của trạm điện tháp Giếng Băng… đã tự ngắt. Mõ đang thử khởi động lại. Người trong lồng thang… giữ nguyên vị trí. Không ai… cố leo.
– Tấn, – Đòng gọi. – Mày thấy gì bên ngoài?
Một lúc lâu, Tấn mới trả lời. Giọng nó nhỏ hẳn đi.
– Tao nhìn ra cửa kính buồng lái… Tao hổng thấy gì hết, Đòng. Hồi nãy còn thấy sao, còn thấy trăng Mọn đang lên đằng tây. Bây giờ đen thui. Đen như có ai úp cái nồi lên trời. Mà kính buồng lái… kính buồng lái đang kêu lách tách. Như có ai ném cát vô.
— Hết chương 10 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe