Chương 4: Mộ của người đi trước
Sáng hôm sau, Mõ vẽ lên tấm bản đồ lớn trong nhà Mõ một vệt đỏ.
Nó không phải một chấm. Đòng đã chờ một chấm, cả đêm cô chờ một chấm, một cái điểm tròn trịa mà người ta có thể chỉ tay vào bảo: đây, nó ở đây. Nhưng cái Mõ vẽ ra là một vệt dài, cong, giống hệt con rắn trắng trên mặt bùn bậc Một mà thằng Mít vẽ hôm nọ, chỉ to hơn. Đầu phía tây bắc của vệt đỏ nằm dưới mạn nam Hang Cái. Đầu phía đông nam chạy về phía Giếng Băng, dừng cách hàng rào mỏ chừng ba trăm mét.
– Mõ xin báo, – giọng Mõ vang trong căn phòng hẹp, nơi ba dãy máy chủ chạy ù ù sau vách kính. – Với tám máy đo, Mõ tính được nguồn chấn động nằm ở độ sâu khoảng hai trăm mười mét, sai số ba mươi mét. Nguồn không phải một điểm. Nó trải dài chừng tám trăm mét. Mỗi chuỗi ba nhịp bắt đầu ở đầu đông nam, rồi chạy dọc vệt về phía tây bắc, mất khoảng hai giây. Như một cái gì đó đi qua một cái ống.
– Đi theo hướng nào? – Đòng hỏi, dù cô biết câu trả lời.
– Từ phía Giếng Băng về phía làng.
Bà Nhàn đứng khoanh tay. Anh Khiêm ghi vào bảng tay. Ông nội Đòng không có ở đó. Chú Nghiệp cũng không. Người trực bảo chú đi Đồi Mả từ sớm.
– Máy số tám bị nghiêng, – Đòng nói. – Phải dựng lại. Cháu đi.
– Đi một mình à?
– Tôi đi cùng, – anh Khiêm nói.
Bà Nhàn nhìn hai người, gật đầu, rồi quay ra cửa, gọi người họp tổ ruộng. Đòng nghe bà vừa đi vừa dặn: bậc Một tháo cạn rồi thì để cạn, cấm trẻ con xuống, ai nhặt được con vịt nào lăn ra thì mang lên trạm y tế cho bác Lụa xem.
Tấn bận đưa xe Trâu đi nạp điện, nên hai người đi bằng xe Nghé, cái xe nhỏ hai chỗ không có buồng kín, ngồi thẳng ngoài trời trong áo ngoài. Đòng lái. Xe Nghé chạy chậm, xóc, mỗi lần vấp hòn đá là nảy lên một cái nhẹ hều, vì ở đây mọi thứ đều chỉ nặng bằng hơn một phần ba ở Trái Đất. Bụi bám lên kính mũ, cô phải lấy găng quệt.
Đến chân Đồi Mả đã thấy một cái xe Nghé khác đỗ sẵn. Trên đỉnh gò, một người mặc áo ngoài màu cam đang ngồi xổm trước nấm mộ cuối cùng.
Chú Nghiệp không quay lại khi họ leo lên. Chú đang xếp lại mấy hòn đá trên nóc mộ cô Loan, từng hòn một, bằng đôi tay đi găng dày cộp. Hòn đá tối qua lăn xuống, giờ đã nằm lại đúng chỗ của nó.
– Chú.
– Ừ. – Chú vẫn không ngẩng lên. – Tối qua Mõ báo có hòn rơi. Tôi lên xếp lại.
Đòng đứng sau lưng chú một lúc. Trên tấm bia đá, chữ khắc nông, đã mòn bớt vì bụi: Nguyễn Thị Loan, 2026 – 2068, quê Bình Châu. Bên dưới có một dòng nhỏ hơn mà cô biết là chú Nghiệp tự khắc: Mẹ của Mít.
– Cháu dựng lại cái máy đo dưới chân đồi, – cô nói. – Chú có thấy nó nghiêng không?
– Thấy. – Chú đặt hòn đá cuối cùng, phủi tay, đứng dậy. Chú cao gần bằng cô, cao hơn hẳn mọi người đàn ông sinh ra ở Trái Đất trong làng. – Cháu cắm nó chỗ đất mềm. Cắm lên chỗ đá kia thì chắc hơn.
Chú nói đúng. Đòng biết chú nói đúng. Chú Nghiệp là người giỏi việc nhất làng sau ông nội, đó là điều không ai cãi được. Hồi nhỏ cô từng ngồi trong xưởng nhìn chú tháo lắp cái bơm nước bằng hai tay không, nhanh như người ta nhặt rau.
Anh Khiêm đứng lặng trước hàng bia. Anh đọc từng cái tên, như anh vẫn đọc tờ giấy dán ở khoang điều áp.
– Chị Loan mất vì răng, anh Nghiệp? – anh hỏi. Rồi như nhận ra mình hỏi quá thẳng, anh nói thêm: – Xin lỗi. Tôi phải viết vô báo cáo số người mất và nguyên nhân. Hồ sơ ghi là bệnh máu.
Chú Nghiệp im một lúc. Ở trên gò, không có tiếng gió. Chỉ có tiếng ba người thở trong ba cái mũ.
– Hồ sơ ghi đúng, – chú nói. – Bệnh máu. Bác Lụa bảo không chắc là do bức xạ. Bác bảo có người ở Trái Đất cũng bị như thế, không ai lên sao Hoả cả. Bác là bác sĩ, bác phải nói thế. – Chú quay nhìn về phía làng, chỉ thấy một cái vòm kính nhỏ như cái bát úp xa xa, lấp lánh. – Còn tôi thì chắc. Mười sáu năm, mỗi lần ra ngoài sửa Đồng Gương, cô ấy đi cùng tôi. Áo ngoài chặn được bụi, chặn được lạnh. Nó không chặn được hết cái thứ từ Mặt Trời bắn tới.
Anh Khiêm không ghi gì vào bảng tay. Đòng để ý điều đó.
– Thằng Mít, – chú Nghiệp nói tiếp, giọng vẫn đều, nhưng chậm hơn. – Tháng trước bác Lụa đo xương cho nó. Mật độ xương chỉ bằng bảy mươi phần trăm đứa trẻ cùng tuổi ở dưới kia. Nó chín tuổi, chưa thấy cái cây nào ngoài mấy cây trong vườn ươm. Nó hỏi tôi quả mít trông như thế nào, tôi phải mở ảnh cho nó xem. Nó tên là Mít mà nó chưa thấy quả mít. – Chú cười một tiếng ngắn. – Anh thanh tra viết cái đó vào báo cáo được không?
– Được, – anh Khiêm nói. – Tôi sẽ viết.
– Viết thì để làm gì. – Chú Nghiệp nhặt cái túi đồ, đeo lên vai. – Tôi về đây. Hai đứa xong thì về sớm. Mõ báo chiều nay gió to dần.
Chú đi xuống sườn gò, những bước dài, nhún nhảy theo kiểu người sống lâu năm ở trọng lực thấp. Xe Nghé của chú chạy ra đường mỏ, rẽ về phía Giếng Băng chứ không về làng.
Đòng nhìn theo. Rồi cô xuống chân đồi, nhổ cái máy đo số tám lên, mang tới chỗ phiến đá mà chú Nghiệp chỉ. Đá cứng, khoan lâu. Anh Khiêm giữ thân máy cho cô, hai tay đặt đúng chỗ, không thừa không thiếu. Khi cô nện xong, Mõ báo tín hiệu tốt hơn hôm qua.
Họ không về ngay. Không ai bảo ai, cả hai cùng ngồi xuống một tảng đá phẳng dưới chân đồi, quay lưng về phía mộ, nhìn ra bình nguyên.
– Anh hỏi chú Nghiệp câu đó để làm gì? – Đòng hỏi.
– Tôi đã nói rồi. Báo cáo cần.
– Anh không ghi.
Anh Khiêm im một lúc.
– Không ghi được, – anh nói. – Có những chuyện ghi ra thành chữ thì nó nhỏ đi.
Đòng nhìn sang anh. Qua hai lớp kính mũ, cô chỉ thấy nửa khuôn mặt anh, cặp kính cận phản chiếu bầu trời màu bơ sữa.
– Cô Đòng, – anh nói, – tôi nói với cô chuyện ni, vì sớm muộn cô cũng biết. Ban Điều phối đang cân nhắc đóng cửa làng Hương Hoả.
Cô không nói gì. Cô đã nghe tin đồn, cả làng đã nghe. Nhưng tin đồn khác với một người ngồi cạnh mình nói ra.
– Hai mươi ba năm, làng tốn của Ban một khoản rất lớn, – anh nói tiếp. – Mỗi chuyến tàu là một khoản. Trong khi ở quê nhà có những nơi cũng cần tiền, những thành phố đang bị nước biển lấn, những vùng đang khô hạn. Ở Vân Cảng, người ta hỏi: nuôi ba trăm người trồng lúa trên sao Hoả để làm chi. Câu đó không phải câu ác. Đó là câu người ta phải hỏi.
– Thế anh trả lời thế nào?
– Tôi gửi báo cáo sơ bộ hôm ba mươi tháng Mười. – Anh nhìn thẳng ra trước. – Tôi đề nghị giữ làng.
Đòng quay hẳn người sang.
– Vì sao?
– Vì làng tự nuôi được mình. Mười một năm nay không xin một hạt gạo nào từ Trái Đất. Vì những thứ các người biết về trồng cây ở đây, không ai trên Trái Đất biết, và nếu bỏ đi thì mất. Vì… – anh dừng lại. – Vì nhiều lý do. Có số liệu cả. Tôi gửi kèm bảy mươi trang.
– Rồi sao nữa?
– Báo cáo cuối phải gửi trước hai mươi chín tháng Chạp. Ban sẽ quyết sau Tết. – Anh đẩy cặp kính lên, một thói quen mà ngay cả trong mũ áo ngoài anh cũng làm, ngón tay găng chạm vào mặt kính mũ rồi mới nhớ ra. – Nhưng có một điều. Theo quy định an toàn của Ban, nếu xảy ra sự cố địa chất cấp ba, đại diện Ban bắt buộc phải đề xuất sơ tán. Bắt buộc. Tôi không được chọn.
– Sơ tán đi đâu? Mười chín tháng nữa mới có tàu.
– Sơ tán, ở đây, nghĩa là dồn hết người lên khu trú ẩn, chờ tàu. Tàu tới thì chở về. Rồi làng đóng. Không ai lên lại nữa.
Đòng nhìn xuống đôi ủng của mình, lấm bụi đỏ.
– Anh biết người như tôi về Trái Đất thì thế nào không?
– Tôi biết.
– Bác Lụa đo xương tôi hằng năm. Tôi sinh ra ở đây. Xương tôi chưa bao giờ phải đỡ một sức nặng gần gấp ba lần ở đây. Về đến nơi, tôi không đứng được. Bác bảo phải tập trên tàu bảy tháng, rồi tập ở dưới kia vài năm, mà có khi cả đời cũng không đi lại bình thường được. – Cô nói đều đều, như đọc số đo nước. – Ở dưới kia, tôi là một người tàn tật. Ở đây, tôi là người giữ nước cho cả làng.
– Tôi biết, – anh Khiêm nói lần nữa. – Tôi đã viết điều đó vô báo cáo sơ bộ. Trang ba mươi mốt.
Cô ngước lên. Anh không nhìn cô. Anh nhìn ra phía Giếng Băng, nơi cái tháp thép đứng thẳng như một cây kim châm vào trời.
Gió bắt đầu lên thật. Không nghe thấy gì, nhưng cát bắt đầu trườn trên mặt đá thành những dải mỏng, chạy về phía đông, như nước tràn qua bờ ruộng. Đòng đứng dậy.
– Về thôi.
Họ về tới làng lúc trời giả vừa bật mức chiều. Cả buổi tối Đòng ngồi trong nhà Mõ, xem đi xem lại vệt đỏ. Bố về muộn, ăn vội bát cơm nguội với rau muống luộc chấm tương, không hỏi cô làm gì cả ngày. Ông nội đã ngủ từ sớm. Cô ghé qua buồng ông. Ông nằm nghiêng quay mặt vào vách, cái chày lim dựng ở đầu giường, trên bàn có một cốc nước. Mặt nước trong cốc gợn ba vòng, lặng đi, rồi lại gợn.
Khuya, cô về giường, nằm nghe tiếng nện. Mười giờ năm mươi. Mười một giờ một phút. Mười một giờ mười một. Cô ngủ thiếp đi giữa hai nhịp.
Cô không biết mình ngủ bao lâu. Cô chỉ biết mình bị kéo ra khỏi giấc ngủ bởi một âm thanh mà hai mươi mốt năm nay, mọi đứa trẻ trong làng đều được dạy để sợ hơn tất cả mọi thứ khác. Một tiếng còi rúc. Ngắn, dài, ngắn. Ngắn, dài, ngắn. Không phải còi báo cháy, không phải còi báo bão.
Đèn trong nhà bật sáng hết. Cái loa trên trần đổi sang giọng mà Mõ chỉ dùng khi có chuyện.
– Mõ xin báo khẩn: hai giờ bảy phút giờ làng, áp suất ở mạn nam Hang Cái chao hai kilô pascal trong bốn mươi giây. Màng kín áp bị thủng. Vị trí: bậc Một, góc đông nam. Mõ đã đóng cửa ngăn giữa bậc Một và bậc Hai. Người nào đang ở dưới bậc Ba, lên ngay. Đội vá màng tập trung ở cửa ngăn. Nhắc lại…
Đòng đã vơ lấy cái áo len của mẹ và chạy trước khi Mõ nhắc lại xong.
— Hết chương 4 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe