Chương 11: Bão bụi
Bốn mươi hai phút sau, cái lồng thang rùng mình và bắt đầu nhích lên. Mõ đã khởi động lại được trạm điện tháp bằng bộ ắc quy dự phòng. Không ai trong lồng nói câu nào suốt bốn mươi hai phút ấy. Ông nội ngồi bệt dưới sàn tôn, lưng dựa vào lưới thép, mắt nhắm. Anh Khiêm đứng. Đòng ngồi xổm cạnh ông, tay vẫn đặt trên lưng áo ông, và đếm. Năm chuỗi ba nhịp. Cứ mỗi lần đất nện, cái lồng lại khẽ lắc trên hai sợi cáp, và cô lại đếm thêm một.
Họ về tới Cửa Đình lúc gần hai giờ sáng. Xe Trâu bò từng mét qua bóng tối, đèn pha chỉ rọi được hai sải tay rồi tan vào một bức tường bụi đỏ thẫm. Tấn lái bằng ra-đa, lái bằng cái bản đồ đường mỏ trong đầu, chân đau phải gác lên hộp số. Gần ba cây số mất hơn một tiếng. Khi khoang điều áp đóng lại sau lưng, khi tiếng rít của không khí ùa vào trở lại, Đòng nghe ông nội thở ra một hơi dài, như người vừa đặt một gánh nặng xuống đất.
Sáng hôm sau, trời không sáng.
Đúng ra là có sáng, nhưng không ai gọi đó là sáng. Qua lớp kính Vòm Đình, bầu trời là một màu nâu sẫm như nước chè đặc, đục ngầu, không phân biệt được đâu là đất đâu là trời. Mặt trời là một cái đĩa mờ màu đồng, không còn rìa, không còn quầng. Nhìn thẳng vào được mà không chói. Cát chạy ngang qua vòm thành từng dải, không nghe thấy gì, chỉ thấy những vệt mờ trôi qua mặt kính, lúc nhanh lúc chậm, như ai đang lấy khăn bụi lau không ngừng.
– Mười bốn phần trăm, – chú Nghiệp đọc trên bảng điện ở nhà Mõ. – Đồng Gương còn mười bốn phần trăm công suất. Ống dẫn sáng gần như không có gì để dẫn.
Chú trông như người không ngủ cả tuần. Mắt đỏ, râu lởm chởm, hai bàn tay quấn băng đã lấm dầu máy. Đòng đứng ở cửa nhà Mõ nhìn chú. Cô nghĩ tới những vành băng nhỏ vỡ nham nhở quanh miệng lỗ khoan. Cô nghĩ tới câu của ông: đứa nào mở nó ra rồi lại hối. Cô không biết chú Nghiệp đêm qua ở đâu lúc bão tới.
– Lò Ông Táo gánh được bao nhiêu? – bà Nhàn hỏi.
– Hai mê-ga-oát, như mọi khi. Không hơn được. – Chú lắc đầu. – Lò chạy ổn định một mức, không phải cái bếp muốn vặn to thì vặn. Hai mê-ga-oát đủ cho khí, cho nước, cho sưởi, cho nhà ở. Còn đèn lúa thì…
– Thì sao?
– Thì chỉ được một nửa.
Bà Nhàn im lâu. Ai cũng biết một nửa đèn nghĩa là gì. Lúa đang ngậm sữa, đúng lúc cần ánh sáng nhất, cần ăn ánh sáng mà làm hạt. Thiếu sáng lúc này thì hạt lép, bông nhẹ, có thóc mà không có gạo.
– Bão kéo dài bao lâu, Mõ?
– Mõ xin báo: theo vệ tinh, đây là cơn bão lớn, đã phủ gần một phần tư hành tinh. Mõ ước tính khu vực làng sẽ chịu bụi dày từ hai đến ba tuần. Sau đó trời quang dần.
Hai đến ba tuần. Đòng tính nhẩm. Ngày gặt là đầu tháng Hai. Gần như cả quãng thời gian còn lại của vụ lúa, cây sẽ phải sống bằng một nửa ánh sáng.
– Cắt một nửa, – bà Nhàn nói. – Nhưng cắt cho khéo. Anh Nghiệp, Đòng, các cháu tính xem bậc nào cần nhiều hơn thì cho nhiều hơn. Cái gì trong nhà tắt được thì tắt. Lò sưởi các nhà để mức thấp. Mặc thêm áo.
Làng bắt đầu sống như thế.
Trời giả trên trần hang chỉ còn sáng nửa, một màu vàng đục như đèn dầu, ngày cũng như chiều. Người ta mặc áo len trong nhà, đi lại chậm hơn, nói nhỏ hơn. Trẻ con không được ra Vòm Đình chơi vì sợ kính vòm có chỗ yếu, nên tụ cả vào cái gian lớn cạnh bếp chung, ngồi nghe các cụ kể chuyện. Đòng đi qua đó một lần, nghe cụ Tư bán trứng kể chuyện ngày xưa ở Hải Đông có trận bão biển thổi bay cả mái đình, người ta phải ôm cột mà đứng. Bọn trẻ há hốc mồm. Chúng chưa từng thấy biển. Chúng không hình dung được một thứ gió có thể thổi bay cả một cái mái.
Cô Ba Huệ nấu chè đậu đen mỗi tối, phát không cho cả làng, ai muốn trả công thì trả, không thì thôi. "Bão thì phải ăn chè, ở quê cô bão về là nhà nào cũng nấu chè," cô bảo, và chẳng ai biết có đúng là ở quê cô như thế thật không, nhưng chẳng ai cãi.
Ông nội nằm nhà. Từ đêm xuống hầm Bốn, ông mệt, ăn ít, ngủ nhiều. Đòng mang cháo sang, ông ăn được nửa bát. Hai ông cháu không nói gì về đêm ấy. Ông không hỏi. Cô không hỏi. Cái lọ thuỷ tinh rửa sạch nằm trong tủ bếp đúng như ông nói, úp ngược trên giá, cạnh mấy cái chén.
Đòng thì gần như không ngủ.
Chiều hôm ấy, cô xuống bậc Hai đo nước như thường lệ. Ánh đèn mờ, mặt ruộng xám, bông lúa rủ xuống. Cô đi dọc bờ phía nam, bờ giáp với cửa ngăn đã đóng của bậc Một. Và cô thấy nó.
Một vệt trắng. Rất mảnh, mảnh hơn sợi chỉ, lấm tấm trên mặt bùn sát chân bờ. Nó chưa vào tới gốc lúa. Nó chỉ chạy dọc theo chân bờ đất, dài chừng mười bước, rồi tắt. Cách đó hai chục bước, lại có một vệt nữa, ngắn hơn, chạy xiên.
Cô đứng nhìn hai vệt trắng rất lâu. Rồi cô làm một việc mà bất cứ người coi mương nào cũng làm khi thấy nước đi lạ: cô đi tìm hết những chỗ nó đi.
Cô đi tới tối. Cô đi khắp bậc Hai, rồi bậc Ba, rồi bậc Bốn. Cô cúi sát mặt bùn, soi đèn tay, mang theo cái bảng tay và một cuộn băng giấy để đánh dấu. Ở đâu có vệt muối, cô cắm một cái cọc nhựa, đọc toạ độ cho Mõ ghi. Bậc Ba có hai vệt, rất mờ. Bậc Bốn không có vệt nào. Bậc Hai có bảy vệt.
Tối, cô bảo Mõ vẽ tất cả lên bản đồ hang, chồng lên cái vệt đỏ dài tám trăm mét mà Mõ tính ra từ tám máy đo hôm trước. Rồi cô đứng nhìn.
Những vệt muối trên mặt ruộng không nằm lung tung. Chúng nằm trên những đường thẳng. Mỗi đường bắt đầu từ cái khe nứt dưới bậc Một mà đêm vá màng cô đã thấy, rồi toả ra như những ngón tay, chạy về phía bắc, phía tây bắc. Bảy vệt ở bậc Hai là ba ngón tay. Hai vệt ở bậc Ba là đầu của hai ngón dài nhất. Nhìn tổng thể, chúng giống hệt cái hình mà ông nội từng vẽ cho cô xem hồi nhỏ, khi ông giảng về rễ cây: một cái rễ cái cắm xuống, và những rễ con toả ra từ nó.
Dưới lớp màng kín áp, dưới lớp đất ruộng dày nửa mét, đá dung nham đã nứt thành những đường như thế. Nước muối lạnh đang theo đó mà bò. Ở những chỗ mép màng chồng lên nhau, chỗ màng được hàn nối từng tấm, có những kẽ hở nhỏ tới mức không khí không lọt qua, nhưng nước muối thì thấm qua được, rất chậm, từng giọt. Nó thấm lên, gặp đất ruộng ấm, bốc hơi, để lại muối. Những vệt trắng trên mặt bùn là dấu chân của nó. Là bản đồ của nó.
– Tấn, – cô gọi qua bộ đàm. – Mày lên nhà Mõ được không?
Nó lên, chống nạng, mặt nhăn mỗi bước. Cô chỉ cho nó xem. Nó nhìn bản đồ một lúc lâu.
– Rồi sao mày?
– Nó đi theo đường. Mình biết đường của nó rồi thì mình chặn được. – Cô chỉ vào chỗ ba ngón tay ở bậc Hai tụ lại gần bờ nam. – Đào một cái mương chặn ở đây. Dọc bờ giáp bậc Một, sâu tới đá. Lót màng, đáy đặt ống hút. Nước muối bò tới đây thì rơi vào mương, ống hút nó lên, bơm vào bồn kín. Nó không lên tới gốc lúa nữa.
– Sâu tới đá là bao sâu?
– Sáu tấc. Dài chín chục mét.
Tấn huýt sáo.
– Trong bão. Đèn nửa mức. Mày định đào bằng gì?
– Bằng tay.
Gần nửa đêm, cô trình với bà Nhàn. Bà nghe hết, không ngắt lời. Rồi bà gọi chú Nghiệp. Chú xem bản đồ, xem lâu hơn bà. Cô thấy chú cắn môi.
– Được, – chú nói cuối cùng. – Cái này được. Tôi cho người kéo ống, đặt bơm. Còn đào thì…
– Thì để cô, – cô Ba Huệ nói từ cửa, tay còn cầm cái muôi chè. – Cô gọi mấy chị em. Đào đất ruộng thì đàn bà làng này đào giỏi hơn đàn ông, hỏi ai cũng biết.
Họ đào ba ngày.
Hai mươi mấy người, đàn ông, đàn bà, cả mấy đứa con trai mười lăm mười sáu tuổi, chia thành ca, mỗi ca bốn tiếng. Đèn trời giả để mức thấp, họ đeo đèn trán. Đất ruộng ướt, nặng, mỗi xẻng hất lên bay cao hơn ở Trái Đất, rơi chậm hơn, nhưng vẫn nặng tay. Mùi bùn, mùi mồ hôi. Cô Ba Huệ vừa đào vừa hát, những câu vọng cổ đứt quãng mà Đòng không hiểu hết, chỉ biết là buồn, mà hát xong thì cả bọn lại cười. Tấn không đào được, nó ngồi trên bờ, chân gác lên thùng, cầm cái bảng tay chỉ huy từng đoạn như một ông cai. Anh Khiêm cởi áo khoác, xắn tay áo, đào cùng mọi người, đào vụng về, mỗi lần xúc đất lại hất hụt một nửa, làm mấy chị cười ngặt nghẽo. Nhưng anh không bỏ ca nào.
Chú Nghiệp kéo ống, đặt bơm. Chú làm đêm, khi người ta đã nghỉ, và sáng ra, đoạn ống nào cũng đã nằm đúng chỗ.
Chiều ngày thứ ba, cái mương chặn dài chín mươi mét đã xong. Đáy mương có một đường ống đục lỗ, phủ sỏi. Cái bơm nhỏ ở đầu mương kêu ro ro. Mỗi giờ, nó hút lên được chừng nửa xô nước muối vàng đục, đổ vào một cái bồn kín. Nửa xô nước ấy, nếu không có mương, đã bò vào gốc lúa bậc Hai.
Đòng đứng trên bờ mương, nhìn cái bơm chạy. Tay cô phồng rộp, lưng cô đau như gãy. Cô Ba Huệ đi ngang, dúi cho cô một bát chè.
– Ăn đi. Con nhỏ này giữ được ruộng cho cả làng rồi.
– Mới giữ được bậc Hai thôi cô.
– Thì bậc Hai. Bậc Hai là gạo của ba chục người ăn một năm. Đâu có ít.
Đòng ăn chè. Ngọt quá. Cô không biết là chè ngọt hay là mình mệt.
Lúc bát chè gần hết thì cái cột loa đầu bậc Hai sáng lên.
– Mõ xin báo: nồng độ khí các-bon ở bậc Một vừa lên ba phẩy hai phần trăm, vượt ngưỡng nguy hiểm cho người. Theo quy định, Mõ đã khoá cửa ngăn bậc Một ở chế độ cấm vào. Chỉ người mặc áo ngoài mới được mở. – Mõ ngừng một nhịp. – Khoảng cách trung bình giữa các chuỗi chấn động trong mười hai giờ qua: sáu phút mười giây.
Sáu phút. Tuần trước còn chín.
Đòng đặt cái bát xuống bờ mương. Cô nhìn đồng hồ đeo tay. Giờ làng, bảy giờ tối. Ngày mười ba tháng Một. Hết hạn ba ngày.
Cô đứng dậy, đi thẳng về nhà, không thay áo, không rửa tay. Cô đẩy cửa buồng ông nội.
Ông nằm trên giường, chăn kéo tới cằm. Bác Lụa ngồi cạnh, tay đặt trên trán ông. Cái chày lim vẫn dựng ở đầu giường. Bác Lụa ngẩng lên nhìn cô.
– Ông cháu sốt từ chiều, – bác nói khẽ. – Ba mươi chín độ hai. Viêm phổi. Chắc bị lạnh từ hôm nào đó mà không nói với ai.
Ông nội mở mắt. Ông nhìn Đòng, nhìn hai bàn tay phồng rộp lấm bùn của cô. Môi ông mấp máy. Cô cúi xuống sát.
– Ông chưa nói được, – ông thì thào. – Ông xin lỗi con bé.
— Hết chương 11 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe