AI Truyện
Làng lúa dưới hoàng hôn xanh

🚀 Khoa học viễn tưởng

Lọ nước biến mất

Làng lúa dưới hoàng hôn xanh · Chương 6/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Lọ nước biến mất

– Hai mươi ba giờ mười bốn phút đêm qua, cửa phòng thí nghiệm nước được mở bằng một thẻ cư dân, – Mõ nói. – Cửa đóng lại lúc hai mươi ba giờ mười chín phút. Trong khoảng ấy, cửa tủ lạnh mẫu số hai mở một lần.

– Thẻ của ai?

– Theo quy chế riêng tư của làng, Mõ chỉ nêu tên người ra vào một phòng khi hội đồng làng yêu cầu, hoặc khi chính người đó đồng ý. Mõ xin lỗi cô Đòng.

Đòng đứng giữa căn phòng hẹp, nhìn cái tủ lạnh mẫu số hai đang mở toang, hơi lạnh trắng bò ra sàn. Ngăn trên cùng vẫn còn tấm nhãn nhỏ cô dán dưới đáy ngăn để đánh dấu chỗ. Năm phút. Ai đó đã vào đây, đi thẳng tới đúng cái tủ, đúng cái ngăn, lấy đúng cái lọ, rồi đi. Không lục lọi. Không động vào những lọ mẫu nước khác bên cạnh.

Người đó biết lọ ở đâu.

Cái quy chế riêng tư ấy, chính ông nội cô viết, năm năm ba, khi làng có Mõ. Ông bảo: cái máy biết hết, nhưng cái máy không được nói hết, không thì người ta sống với nhau thế nào được. Cả làng gật. Hai mươi hai năm, chưa ai phải xin hội đồng mở tên người ra vào một căn phòng. Muốn biết tên, cô phải đứng trước hội đồng, kể chuyện cái lọ, kể chuyện những đốm đỏ. Và cô không muốn làm thế. Chưa.

Cô đóng tủ lại.

Trạm y tế ở dãy nhà số một, sát Cửa Đình, nơi không khí sạch nhất hang. Bác Lụa đang ngồi viết sổ bệnh án bằng tay, thói quen của người học nghề ở thủ đô từ hồi còn dùng giấy. Bác sáu mươi tuổi, người nhỏ, tóc búi gọn, đeo kính lão trễ xuống mũi. Bác là bác sĩ duy nhất của làng từ năm năm hai, đỡ đẻ cho gần hết lũ trẻ sinh ra ở đây, kể cả Đòng.

– Mẫu đâu? – bác hỏi, không ngẩng lên. – Bác rảnh rồi đây, thằng bé nhà chị Mận hạ sốt rồi.

– Mất rồi bác ạ.

Bác Lụa ngẩng lên.

Đòng kể. Cô kể ngắn, như kể số đo: nước muối dưới khe nứt, âm hai mươi tư độ, mặn gấp bốn lần nước biển, cặn xám, và những đốm đỏ. Tròn, dính thành chùm, chùm xếp vòng như cánh hoa. Màu đỏ son. Bác Lụa nghe hết, không ngắt lời.

– Có khi là khoáng sắt kết tủa, – bác nói. – Nước muối lạnh đột ngột lên chỗ ấm, sắt trong nước có thể kết thành hạt.

– Hạt sắt thì tròn được à bác?

– Được. Có loại kết thành cầu nhỏ.

– Mà màu đỏ son?

Bác Lụa tháo kính ra, lau vào vạt áo blouse. Bác lau rất lâu, lâu hơn một cặp kính cần được lau.

– Không nhìn tận mắt thì bác không nói được, – cuối cùng bác bảo. – Lần sau có mẫu thì cháu mang sang ngay, đừng để qua đêm. Mang thẳng cho bác. Đừng qua tay ai.

Câu cuối bác nói nhỏ hơn mấy câu trước. Đòng nhìn bác, chờ bác nói thêm. Bác không nói thêm. Bác đeo kính vào, cúi xuống cuốn sổ bệnh án, và cây bút lại chạy.

Đòng ra khỏi trạm y tế thì thằng Mít đang ngồi chờ trên bậc thang thép, hai chân đung đưa, tay cầm cái bánh đa vừng.

– Chị Đòng. Chị mất cái gì à?

– Sao em biết?

– Em nghe chị hỏi Mõ. – Nó nhai rôm rốp. – Đêm qua em dậy đi tè, em thấy một người đi lên cầu thang phòng thí nghiệm.

Đòng ngồi xuống cạnh nó.

– Người thế nào?

– Mặc áo mỏ. – Nó giơ tay vẽ một cái hình vuông trên lưng mình. – Áo mỏ màu xám, sau lưng có số như áo của bố em ấy. Nhưng tối quá em không đọc được số. Người ấy đi chậm lắm. Em tưởng ma.

– Có phải bố em không?

Thằng Mít lắc đầu, rất chắc.

– Bố em đi xuống mỏ từ mười giờ. Đêm nào bố cũng đi.

Đòng định hỏi tiếp câu ấy, cái câu "đêm nào bố cũng đi", nhưng chị Mận nhà bên đã gọi thằng Mít về ăn cơm, và nó nhảy ba bậc một xuống cầu thang, nhẹ hều như một chiếc lá.

Áo mỏ màu xám. Cả làng có mười một người làm dưới Giếng Băng, mười một cái áo mỏ màu xám, sau lưng in số. Bố cô là một trong mười một người ấy. Chú Nghiệp không mặc áo mỏ, chú mặc áo bảo hộ màu cam của kỹ sư trưởng. Nhưng chú có áo mỏ trong tủ, ai mà chẳng có.

Hôm ấy là ngày chợ Bảy.

Chợ Bảy họp ở Vòm Đình, cứ bảy ngày một phiên, từ thời làng còn mười ba căn nhà. Gọi là chợ, nhưng chẳng ai trả bằng tiền. Ở đây người ta trả bằng công, cái điểm mà Mõ cộng cho mỗi người mỗi giờ làm việc, một ngày làm đủ thì được chừng trăm công. Người ta mang ra bán những thứ mình làm được ngoài phần việc chung. Rau thơm trồng chậu, mắm tép làm từ tép nuôi trong bể, áo len đan từ sợi tái chế, những con tò he nặn bằng bột gạo nhuộm màu.

Đòng đi qua chợ mà không định mua gì. Nhưng ở làng này không ai đi qua chợ mà không bị gọi lại.

– Đòng! Con nhỏ này, ăn cái bánh xèo đã. – Cô Ba Huệ ngồi sau cái chảo gang, dầu xèo xèo, tay đổ bột thoăn thoắt. – Tám công thôi, cô lấy của con năm công.

– Cô Ba bán thế thì lỗ.

– Lỗ cái gì mà lỗ. Đứa nào giữ nước cho ruộng thì ăn bánh xèo cô giảm giá. Luật của cô.

Đòng ngồi xuống cái ghế đẩu nhựa. Bánh xèo của cô Ba Huệ vàng giòn, nhân giá đỗ và tép, bột gạo pha nghệ trồng trong vườn ươm. Cuốn với lá cải, chấm nước mắm pha loãng, vì mắm thật làm từ cá biển thì cả làng không có một giọt. Bên cạnh, bà cụ Tư bán trứng vịt đang cãi với một người khách.

– Mười tám công một quả, không bớt. Mấy hôm nay nó đẻ ít, đêm nào cũng giật mình. Vịt mà mất ngủ thì không đẻ, ai chả biết.

– Tuần trước mười lăm công cơ mà.

– Thì tuần trước dưới đất chưa có ma giã gạo.

Người khách thôi cãi. Mấy người quanh đó cũng im đi một nhịp.

Ở góc chợ, chỗ gốc đào, ông cụ Chiến làm tò he đang nặn một con trâu bằng bột màu nâu cho thằng bé con nhà chị Mận. Bên cạnh ông, Đòng thấy anh Khiêm đứng xem, bảng tay kẹp nách, tay cầm một con tò he hình con cò trắng, chắc vừa mua.

– Bao nhiêu công thế anh thanh tra? – Đòng hỏi.

Anh quay lại, có vẻ hơi ngượng vì bị bắt gặp.

– Sáu công. Tôi mua cho… – anh nhìn con cò bột trong tay. – Tôi không biết mua cho ai. Hồi nhỏ ở Hương Thành có ông già bán tò he trước cổng trường. Tôi không nghĩ lên tới đây còn thấy.

– Ông Chiến học của ông nội tôi. Ông nội tôi học của bà cố. – Đòng nhìn con cò. – Ở đây bột gạo thì có, phẩm màu thì không. Màu đỏ là củ dền, màu vàng là nghệ, màu xanh là lá dứa trồng chậu. Hết màu thì nặn trắng.

– Con cò ni thì trắng.

– Thì con cò trắng thật mà.

Anh Khiêm cười. Đòng mới thấy anh cười lần đầu, và nó làm mặt anh trẻ đi mấy tuổi.

Chiều hôm đó hội đồng họp.

Lần này đông hơn. Ngoài bà Nhàn, chú Nghiệp, anh Khiêm, bố Đòng, còn có tổ trưởng các tổ ruộng, tổ khí, tổ bếp. Ông nội Đòng cũng đến. Ông không ngồi vào bàn, ông ngồi trên cái ghế tựa ở góc đình, cạnh bàn thờ, cái gậy dựng giữa hai đầu gối. Ông không nhìn Đòng.

Đòng chiếu vệt đỏ của Mõ lên bức vách trắng. Cô giải thích: tám máy đo, độ sâu hai trăm mười mét, dài tám trăm mét, nhịp chạy từ đông nam về tây bắc, tức là từ phía Giếng Băng về phía làng. Khe nứt dưới bậc Một nằm đúng đầu tây bắc của vệt đỏ. Nước muối từ khe nứt mặn gấp bốn lần nước biển, âm hai mươi tư độ, chứa đầy khí các-bon. Cô không nói tới những đốm đỏ. Cô không nói tới cái lọ.

– Cháu đề nghị xuống kiểm tra Giếng Băng, – cô nói. – Từng tầng. Xem có khe nứt nào nối với cái vệt này không.

– Không cần, – chú Nghiệp nói ngay. – Mỏ an toàn. Tôi xuống mỏ mỗi ngày.

– Chú xuống mỗi ngày, nhưng chú có đi hết các tầng không?

– Những tầng đang khai thác, có. Những tầng đã đóng thì đóng rồi, không ai vào. – Chú quay sang bà Nhàn, giọng chú dịu xuống, như người cố giảng giải cho trẻ con. – Chị Nhàn. Từ giờ tới Tết còn hơn một tháng. Làng cần nước để gói bánh, để rửa đất cho vụ sau, để thay nước bậc Một. Cho cả đội xuống kiểm tra là mất ít nhất một ngày khai thác. Mà kiểm tra để tìm cái gì? Một cái khe nứt ở độ sâu hai trăm mét? Mỏ của mình có ba trăm hai mươi mét. Đá chỗ nào cũng nứt.

– Thế cái nước muối chui lên bậc Một là ở đâu ra? – cô Ba Huệ hỏi từ cuối bàn.

– Nước ngầm. Có ở khắp nơi dưới đất.

– Vậy sao hai mươi ba năm nay nó hổng chui lên, giờ mới chui?

Chú Nghiệp không trả lời câu ấy.

Anh Khiêm lên tiếng. Anh vẫn nói bằng cái giọng nhẹ, mỗi câu như đặt một cái chén.

– Theo quy chế của Ban, đại diện Ban có quyền yêu cầu kiểm tra an toàn bất kỳ cơ sở nào của khu định cư, bất kỳ lúc nào. – Anh dừng một chút. – Tôi không muốn dùng quyền đó. Tôi muốn làng tự quyết. Nhưng nếu làng không quyết, thì tôi phải dùng.

Cả đình im phắc. Sáu tháng nay, đây là lần đầu tiên ông thanh tra nói ra cái quyền của mình. Đòng thấy một vài người trong bàn nhìn anh không mấy thiện cảm. Cô không biết mình đang nhìn anh bằng con mắt thế nào.

Bà Nhàn gõ bút.

– Đi. Mai đi. Anh Nghiệp dẫn, vì anh thuộc mỏ nhất. Anh Sơn đi cùng. Con Đòng, anh thanh tra, thêm thằng Tấn để có người khoẻ. Đi hết các tầng đang mở. – Bà nhìn chú Nghiệp. – Mất một ngày khai thác thì mất. Tết mà không có làng thì gói bánh cho ai ăn.

Chú Nghiệp nhìn bà một lúc lâu. Rồi chú gật đầu.

– Được. Tôi dẫn.

Lúc mọi người đứng dậy, Đòng liếc về phía góc đình. Ông nội vẫn ngồi đó, tay phải nắm chặt đầu cái gậy, mắt nhắm lại như đang ngủ. Nhưng ông không ngủ. Đòng thấy môi ông mấp máy, như người đang đếm.

Tối ấy cô ngồi một mình trong nhà Mõ. Cô mở bảng số liệu của tất cả các chuỗi chấn động từ ngày hai mươi tám tháng Mười một, xếp theo thời gian, nhìn cái cột ghi khoảng cách giữa các chuỗi. Bốn mươi phút. Ba mươi bảy. Ba mươi hai. Hai mươi sáu. Mười chín. Mười bốn. Mười một.

– Mõ. Nhịp đêm nay bao nhiêu?

– Mõ xin báo: khoảng cách trung bình giữa các chuỗi trong mười hai giờ qua là chín phút hai mươi giây. Cường độ mỗi chuỗi tăng khoảng bốn phần trăm so với hôm qua.

– Nếu cứ giữ đà này thì sao?

– Mõ đã tính. Nếu khoảng cách tiếp tục rút ngắn theo đúng xu hướng sáu tuần qua, thì vào khoảng ngày năm tháng Hai dương lịch, tức hai mươi tháng Chạp, khoảng cách giữa các chuỗi sẽ về không. Mõ gọi tạm là nhịp liền: ba nhịp nối ba nhịp, không còn chỗ nghỉ.

Đòng nhìn con số trên màn hình. Hai mươi tháng Chạp. Ba ngày trước khi đưa ông Công ông Táo về trời. Mười ngày trước Tết.

– Khi nhịp liền thì chuyện gì xảy ra?

Mõ im lặng lâu hơn mọi lần.

– Mõ không biết, – Mõ nói. – Mõ chưa từng thấy.

— Hết chương 6 —

Mục lục Làng lúa dưới hoàng hôn xanh

  1. 1Tiếng giã gạo lúc nửa đêm8 phút
  2. 2Muối ở gốc lúa11 phút đọc
  3. 3Hoàng hôn xanh11 phút đọc
  4. 4Mộ của người đi trước10 phút đọc
  5. 5Vết nứt dưới bậc Một10 phút đọc
  6. 6Lọ nước biến mất11 phút đọc
  7. 7Xuống Giếng Băng11 phút đọc
  8. 8Đường hầm số bốn10 phút đọc
  9. 9Lỗ khoan không có trên bản đồ11 phút đọc
  10. 10Ông nội ở cuối hầm11 phút đọc
  11. 11Bão bụi11 phút đọc
  12. 12Đứa trẻ đếm nhịp11 phút đọc
  13. 13Nhánh hang không tên11 phút đọc
  14. 14Nước mặn không đóng băng10 phút đọc
  15. 15Cái ao11 phút đọc
  16. 16Hai chiếc khoá10 phút đọc
  17. 17Đêm trước khi xuống10 phút đọc
  18. 18Đáy cái giếng11 phút đọc
  19. 19Mười bốn năm12 phút đọc
  20. 20Điều thứ chín12 phút đọc
  21. 21Lá thư mẹ không gửi10 phút đọc
  22. 22Hai mươi phút10 phút đọc
  23. 23Cấp ba11 phút đọc
  24. 24Rằm tháng Chạp10 phút đọc
  25. 25Người làng cãi nhau10 phút đọc
  26. 26Con voi gãy vòi10 phút đọc
  27. 27Gặt sớm12 phút đọc
  28. 28Chiếc khoá thứ ba11 phút đọc
  29. 29Ông Công ông Táo10 phút đọc
  30. 30Xuống lần cuối11 phút đọc
  31. 31Nhịp chày10 phút đọc
  32. 32Người ở lại11 phút đọc
  33. 33Mũi khoan từ trời10 phút đọc
  34. 34Ra khỏi lòng đất10 phút đọc
  35. 35Tất niên10 phút đọc
  36. 36Mưa xuân trên sao Hoả10 phút đọc

Về truyện này

Làng lúa dưới hoàng hôn xanh là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →