Chương 28: Chiếc khoá thứ ba
– Ba chiếc khoá có quyền ban hành lệnh im lặng, – Đòng nói. – Khoá trưởng làng. Khoá đại diện Ban. Và khoá kỹ sư trưởng. Hôm mười chín, hội đồng chỉ nói tới hai chiếc. Cháu xin nói tới chiếc thứ ba.
Tối ngày mùng sáu. Nhà Mõ chật như hôm mười chín, mười một người có quyền biểu quyết ngồi quanh cái bàn dài, những người còn lại đứng sát vách. Ông nội ngồi xe lăn ở góc, cạnh cái két bàn giao. Ngoài kia, dưới đất, nhịp vẫn liền, không nghỉ một giây từ mười giờ bốn mươi sáng hôm qua. Nước muối đã ngập kín bậc Hai, đang liếm lên bờ bậc Ba. Cả buổi chiều, hai chục người đào một cái mương chặn thứ hai dọc bờ bậc Ba, đào trong mặt nạ, và Đòng vừa từ dưới đó lên, tay còn dính bùn.
Bà Nhàn đã nghe cô kể từ trưa. Bà nghe hết, không nói gì, rồi chỉ hỏi một câu: con chắc chưa. Đòng bảo: cháu chắc cái cháu thấy, còn cái cháu chưa thấy thì phải hỏi Mõ. Bà gọi họp.
– Cháu đề nghị hội đồng biểu quyết, – Đòng nói, – yêu cầu Mõ nêu ba thứ. Nhật ký mở két bàn giao đêm hai mươi mốt tháng Mười một. Nhật ký ra vào xưởng cơ khí đêm hai mươi và hai mươi mốt tháng Mười một. Và lịch chạy lồng thang Giếng Băng đêm hai mươi mốt tháng Mười một, có ghi thẻ.
– Ai đồng ý thì giơ tay, – bà Nhàn nói.
Anh Lành giơ trước. Rồi cô Ba Huệ. Rồi chị Mận, tay còn run từ hôm qua. Rồi anh Khiêm. Từng cánh tay một. Đòng không nhìn họ. Cô nhìn một người.
Chú Nghiệp ngồi ở chỗ quen, đầu bàn bên trái. Hai bàn tay quấn băng đặt trên mặt bàn. Chú nhìn cô. Rồi chú giơ tay. Chậm, như hôm mười chín. Nhưng giơ.
Mười một trên mười một.
– Mõ, – bà Nhàn gọi.
– Mõ xin đọc, theo biểu quyết của hội đồng. – Giọng Mõ đều như mọi khi, không nhanh hơn, không chậm hơn. – Một. Két bàn giao, đêm hai mươi mốt tháng Mười một. Hai mươi hai giờ ba mươi sáu phút, két mở bằng khoá kỹ sư trưởng K-1. Hai mươi hai giờ ba mươi chín phút, két đóng. Hai mươi hai giờ năm mươi phút, lệnh im lặng được ban hành tại bàn điều khiển nhà Mõ, bằng khoá T-1 và khoá B-1. Hai mươi ba giờ lẻ hai phút, két mở bằng khoá kỹ sư trưởng K-1. Hai mươi ba giờ lẻ ba phút, két đóng.
Không ai thở.
– Hai. Xưởng cơ khí. Đêm hai mươi tháng Mười một, hai mươi hai giờ mười lăm phút, cửa xưởng mở bằng thẻ cư dân của anh Tạ Quang Nghiệp. Hai mươi hai giờ bốn mươi phút, cửa đóng. Đêm hai mươi mốt, không ai vào xưởng.
– Ba. Lồng thang Giếng Băng. Đêm hai mươi mốt tháng Mười một, hai mươi ba giờ hai mươi phút, lồng được gọi từ cổng chính bằng khoá kỹ sư trưởng K-1, xuống tầng hai trăm tám mươi. Hai giờ lẻ năm phút sáng hai mươi hai, lồng lên. – Mõ dừng. – Mõ đã đọc hết.
Cái két bàn giao nằm trên vách, cách cái xe lăn của ông nội một sải tay. Mười ba phút. Hai mươi hai giờ ba mươi sáu, chiếc khoá thứ ba mở két, lấy ra một tấm thẻ màu xanh lam. Hai mươi hai giờ năm mươi, tấm thẻ ấy cùng một tấm thẻ khác đặt một lệnh lên Mõ. Hai mươi ba giờ lẻ hai, chiếc khoá thứ ba mở két, trả tấm thẻ màu xanh lam về chỗ cũ, nằm im trong cái túi vải nhỏ cùng cái bút và cái huy hiệu của ông Phong. Rồi hai mươi phút sau, nó gọi lồng xuống hầm Bốn.
Đòng không nói gì. Cô để những con số ấy nằm trên mặt bàn. Ai ngồi quanh cái bàn ấy cũng làm được phép trừ.
Rồi cô nói tiếp, chậm, như cô vẫn đọc số đo nước.
– Từ ngày năm tới ngày mười tháng Một, đêm nào lồng thang cũng chạy xuống hai trăm tám mươi, gọi bằng nút khẩn ở cổng phụ, không thẻ. – Cô bảo Mõ chiếu lên vách hai thứ cạnh nhau. Bên trái là tờ giấy cá. Bên phải là lịch chạy của lồng. – Tờ này là của một đứa trẻ. Nó vẽ một con cá cam mỗi lần đất nện. Nó vẽ một cái ủng đen mũi quay sang phải mỗi lần bố nó đi, mũi quay sang trái mỗi lần bố nó về. Nó không biết bố nó đi đâu. Nó chỉ biết đếm.
Cô không nói tên thằng Mít. Cô không cần nói.
– Ủng đi lúc mười giờ. Lồng xuống lúc mười giờ hai mươi tư. Ủng về lúc hai giờ. Lồng lên lúc một giờ ba mươi tư. – Cô chỉ từng dòng. – Đêm năm. Đêm sáu. Đêm tám. Đêm mười, ba giờ sáng, ba tiếng sau khi bão tới. Chỉ có đêm bảy là lồng không chạy theo cái ủng, vì đêm bảy, lồng đã nằm dưới hầm Bốn từ chín giờ. Người ngồi dưới đó là ông cháu.
Cô quay lại nhìn chú Nghiệp.
– Đêm mùng chín, dưới hầm Bốn, anh Khiêm vặn lại ba con bu lông. Ông cháu đứng nhìn, ông bảo người vặn quen tay sẽ biết có bàn tay khác đã vặn. Hôm hai mươi, chú tháo con bu lông đầu tiên, chú khựng lại. Cháu đứng ngay đấy.
Chú Nghiệp không nói gì.
– Chú, – Đòng nói. Giọng cô bây giờ không còn giống giọng đọc số đo nữa. – Chú tháo băng tay ra đi.
Cả căn phòng quay về phía hai bàn tay đặt trên mặt bàn.
Chú Nghiệp nhìn xuống chúng. Lâu. Rồi chú bắt đầu tháo. Từng vòng, như mấy đêm trước trong xưởng lớn, khi chú không biết có người đứng nhìn. Băng trắng rơi xuống mặt bàn thành một đống mềm. Dưới ánh đèn trắng của nhà Mõ, hai bàn tay ấy hiện ra: da non đỏ hồng căng bóng, những vệt sẹo trắng lồi lên ở đầu ngón, đầu ngón trỏ sẫm lại như bị hơ lửa. Bỏng lạnh chồng lên bỏng lạnh.
Bác Lụa, đứng sát vách, khẽ nhắm mắt lại.
– Một lỗ trên găng áo ngoài, sửa van Đồng Gương, – bác nói, rất khẽ, như nói với mình. – Bác đã tin.
Chú Nghiệp đặt hai bàn tay trần lên mặt bàn, lòng bàn tay úp xuống.
– Tôi, – chú nói.
Một chữ. Chú để nó nằm đó một lúc, như người ta đặt một cái chén xuống bàn rồi chờ xem nó có đứng vững không.
– Tôi mở cái nút, – chú nói tiếp. Giọng chú vẫn dứt khoát, như mọi khi chú nói ở hội đồng. Chỉ có điều nó khàn. – Đêm hai mươi mốt tháng Mười một. Bằng mũi khoan X-07, tôi lấy ở xưởng đêm hôm trước, không ký sổ. Lệnh im lặng tôi đặt. Bằng thẻ T-1 và thẻ B-1. Két tôi mở bằng khoá của tôi. Lệnh huỷ B-1 hôm hai mươi tháng Bảy, tôi gửi đi mà cố tình không xác nhận. Không phải tôi quên.
Không ai nói gì. Anh Khiêm ngồi bất động.
– Tháng Mười, tôi đọc báo cáo sơ bộ của anh Khiêm, – chú nói, không nhìn anh. – Tôi là kỹ sư trưởng, thư đi về đều qua tay tôi. Bảy mươi trang. Anh viết hay lắm. Anh đề nghị giữ làng. Tôi đọc tới trang ba mươi mốt, chỗ anh viết về xương của những đứa trẻ sinh ở đây. Tôi đọc tới chỗ anh viết là về dưới kia chúng nó sẽ thành tàn tật. Anh viết đúng. Nhưng tôi đọc cái câu ấy theo chiều khác. – Chú dừng. – Tôi đọc: giữ làng thì thằng Mít ở đây mãi. Xương nó bảy mươi phần trăm. Mẹ nó nằm trên Đồi Mả. Năm nào nó còn nhỏ thì năm ấy nó còn về được. Thêm năm năm nữa thì không về được nữa.
– Anh tin là bức xạ giết chị Loan, – bà Nhàn nói khẽ.
– Tôi tin. Bác Lụa bảo không chắc. Tôi chắc. – Chú quay sang góc phòng, nơi cái xe lăn. – Tôi biết cái lỗ khoan. Tôi biết cái ao. Tôi biết hầm Bốn sơn chữ túi khí nén. Tôi định làm cho nó thành túi khí nén thật. Khoan một cái lỗ nhỏ qua nút, cho khí rỉ vào hầm Bốn. Lệnh im lặng để Mõ khỏi tự báo, để không ai tự nhiên xuống mà thấy cái lỗ, thấy cái ao. Rồi tháng Mười hai tôi sẽ tự "phát hiện". Tôi sẽ đưa cho anh thanh tra những con số tôi chọn. Một túi khí nén tỉnh dậy sau mười bốn năm, đúng như chữ thầy sơn trên cửa. Sự cố khí trong mỏ, cấp ba. Anh thanh tra phải đề xuất sơ tán. Tàu năm bảy sáu. Thằng Mít về.
– Một cái báo động, – Đòng nói.
– Một cái báo động. – Chú gật. – Tôi không định làm hại ai. Đêm ấy, khoan tới lớp cuối của nút, nước phụt lên mạnh hơn tôi nghĩ. Mũi khoan gãy, tôi bỏ chạy, quên mất mảnh vỡ. Một tuần sau, đất bắt đầu nện. Tôi tưởng nó sẽ tự lặng. Nó không lặng. Rồi muối lên bậc Một. – Chú nhìn xuống hai bàn tay mình. – Tôi không ngờ nước muối tìm được đường về làng. Tôi là kỹ sư trưởng mà tôi không ngờ. Từ đấy, đêm nào tôi cũng xuống. Đổ nước, nhào băng, bịt. Nó đẩy bật ra. Tôi lại bịt. Đêm mùng bảy, tôi ra tới cổng, thấy lồng nằm dưới hai trăm tám mươi. Tôi biết thầy ở dưới ấy. Tôi về.
Ông nội không động đậy.
– Tại sao anh không nói? – cô Ba Huệ hỏi. Giọng cô không to. – Lúc muối mới lên bậc Một. Lúc con vịt chết. Lúc thằng Tấn kẹt chân.
– Vì nói ra thì phải nói cái ao. – Chú Nghiệp ngẩng lên. – Nói cái ao thì thầy thành người phạm luật. Mười bốn năm thầy giữ nó. Tôi không làm thầy thành tội đồ được. Rồi tôi tự bảo, để tôi bịt được đã. Rồi tôi tự bảo, để qua Tết. – Chú cười một tiếng ngắn, không vui. – Thầy bảo sang năm mười bốn lần. Tôi mới bảo được có mấy tuần mà đã thế này.
Chú lần tay vào túi áo bảo hộ, chỗ túi ngực bên trái. Chú lấy ra một vật nhỏ, dẹt, đặt lên mặt bàn, giữa đống băng trắng.
Một tấm thẻ khoá. Màu đỏ sẫm, mép mòn vẹt, trên mặt in hai chữ đã bạc: T-1.
– Năm bảy hai, thầy nằm viện, – chú nói, nhìn về phía cái xe lăn. – Hôm thứ hai sau khi thầy bị, thầy gọi tôi vào. Thầy bảo hộp gỗ ở nhà để xa, có gì khẩn thì không lấy kịp, mày cầm giữ hộ. Rồi thầy khoẻ lại, thầy quên. Tôi không trả. Ba năm tôi để nó trong túi áo. Tôi không định dùng nó vào việc gì. Rồi tôi dùng.
Ông nội nhìn tấm thẻ đỏ. Mặt ông không đổi. Nhưng Đòng thấy bàn tay phải của ông, đang đặt trên đầu cái gậy, siết lại.
– Trạm y tế, – ông nói rất khẽ. – Giường cạnh cửa sổ. Mày mang cho ông bát cháo.
– Vâng.
– Ông đưa mày cái thẻ, rồi ông bảo mày đừng cho Lụa biết ông còn lo việc làng.
– Vâng.
Ông nhắm mắt lại. Ông không nói gì nữa.
Đòng nhìn tấm thẻ đỏ nằm giữa đống băng trắng trên mặt bàn. Cô đã nghĩ mình sẽ thấy nhẹ đi, như hôm đọc thư mẹ. Cô không thấy nhẹ. Cô thấy thằng Mít ngồi trên bậc thang thép, hai chân đung đưa, tay cầm cái bánh đa vừng. Bố em đi gõ cửa đất.
– Còn con Voi, – anh Bảy nói từ chỗ đứng sát vách. Anh không có quyền biểu quyết, nhưng không ai ngăn anh. – Đêm Rằm. Cũng anh nốt chứ gì? Anh biết con Voi từ trong ra ngoài. Anh cắt cho làng không khoan được, cho làng phải dời, cho thằng Mít nhà anh về.
– Không, – chú Nghiệp nói.
– Anh nói dối hai tháng rồi. Bây giờ anh bảo không thì ai tin?
Chú Nghiệp không cãi. Chú chỉ ngồi đó, hai bàn tay trần úp trên mặt bàn, nhìn thẳng vào anh Bảy, và không nói thêm một chữ nào. Đòng biết cái im lặng ấy. Mấy đêm trước, trong xưởng lớn, chú đã áp trán vào cái vỏ thép lạnh của con Voi, và gọi một người.
Cái xe lăn kêu lên một tiếng két.
Ông nội đã mở mắt. Ông nhìn anh Bảy, rồi nhìn khắp lượt những người đang đứng trong căn phòng hẹp, như hôm mười chín, từng người một.
– Cái voi là ông phá, – ông nói. – Không phải Nghiệp.
— Hết chương 28 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe