Chương 3: Hoàng hôn xanh
– Khoá cổ, kiểm. Khoá cổ tay trái, kiểm. Khoá cổ tay phải, kiểm. Van dưỡng khí, mở. Áp suất trong áo, ba mươi kilô pascal, ổn định.
Anh Khiêm đọc to từng dòng, như học trò trả bài, rồi mới giơ ngón cái lên. Đòng đứng đối diện anh trong khoang điều áp của Cửa Đình, đã mặc xong áo ngoài từ mười phút trước, nhìn qua tấm kính mũ của mình vào tấm kính mũ của anh. Cô đã định kiểm lại cho anh. Cô định sẽ thấy một cái khoá chưa cài, một cái ống chưa vặn, để có cớ nói một câu. Nhưng không có gì để nói. Anh làm đúng từng bước, đúng thứ tự, không thiếu bước nào.
– Ông thanh tra học thuộc hết rồi ha, – Tấn nói trong bộ đàm, cái giọng Tây Giang của nó nghe qua loa mũ rè rè như radio cũ. – Tui mặc cái áo này mười chín năm mà còn quên khoá cổ tay hoài.
– Tôi không thuộc, – anh Khiêm đáp. – Tôi đọc. Có tờ in dán trên tường kia.
Đòng liếc sang. Đúng là có một tờ giấy ép nhựa dán cạnh cửa, chữ to, đã ngả vàng, từ hồi cô còn chưa đi học. Hai mươi mốt năm nay cô đi qua nó không biết bao nhiêu lần, và chưa bao giờ nhìn vào.
Đèn trên cửa ngoài chuyển từ đỏ sang vàng. Không khí trong khoang bị hút ra, tiếng rít nhỏ dần, nhỏ dần, rồi tắt hẳn, như ai vặn nhỏ cả thế giới. Từ lúc ấy trở đi, mọi âm thanh Đòng nghe được chỉ còn là tiếng thở của chính mình, tiếng quạt nhỏ trong mũ, và những giọng nói đi qua bộ đàm. Ngoài kia, không khí mỏng tới mức không mang nổi tiếng động. Đèn chuyển sang xanh. Cửa ngoài mở.
Xe Trâu đỗ sẵn dưới mái che bụi. Nó là một cái hộp kín áp sơn trắng ngà, sáu bánh lưới thép cao ngang ngực người. Phía trước có hai cái đèn tròn nhìn hao hao đôi mắt trâu, nên người làng gọi nó là xe Trâu từ ngày đầu. Tấn trèo lên ghế lái, nối ống áo của mình vào ổ thở của xe, rồi vỗ vỗ lên bảng điều khiển như vỗ lưng con vật nhà.
– Đi nghen bà con. Hôm nay con Trâu ăn no điện, chạy được tám chục cây số.
Năm cái máy đo địa chấn nằm trong thùng sau, mỗi cái to bằng cái phích nước, đầu dưới có mũi khoan nhỏ để cắm sâu vào đất cho chắc. Đòng đã vẽ sẵn vị trí từ đêm qua: một vòng cung lớn ôm lấy phía nam làng. Một cái ở bờ Hố Trời Thủng phía đông. Một cái ở cây số một trên đường ra mỏ. Một cái sát hàng rào Giếng Băng. Một cái trên gò đá phía tây nam. Cái cuối cùng trên Đồi Mả. Cộng với ba cái cũ ở phía bắc là tám. Tám điểm, Mõ sẽ tính được nguồn tiếng nện nằm ở đâu, sâu bao nhiêu.
Xe lăn ra khỏi mái che. Ánh sáng ập vào.
Đòng đã ra mặt đất hàng trăm lần, nhưng lần nào cũng vậy, mấy giây đầu cô phải nheo mắt. Không phải vì chói. Mặt trời ở đây nhỏ hơn mặt trời quê mà ông kể, chỉ bằng hai phần ba, và yếu hơn. Cô nheo mắt vì cái rộng. Trong hang, xa nhất là một cây số hai, có trần, có vách, có mùi. Ở đây thì không có gì chặn mắt lại. Bình nguyên Arcadia trải ra một màu gỉ sắt, từ dưới bánh xe tới tận chân trời, phẳng như cái mâm đồng ai để quên ngoài sân. Đá lổn nhổn, to nhỏ đủ cỡ, cái nào cũng có một vệt bóng đổ dài về phía tây vì mặt trời còn thấp. Trên đầu, bầu trời màu bơ sữa, nhạt dần về phía chân trời thành màu hồng đất.
Và trong bóng của mỗi hòn đá có một lớp trắng mỏng.
– Sương muối kìa, – Đòng nói.
– Sương gì? – anh Khiêm hỏi.
– Sương giá. Nước đóng băng. Mùa này bắc bán cầu đang sang đông, đêm xuống tới âm chín mươi độ. Hơi nước trong không khí đọng lại thành băng trong chỗ râm. Nắng lên tới đâu, nó bay tới đó. Chiều về là hết.
Anh Khiêm cúi sát cửa kính xe nhìn, lâu, như người ta nhìn một con vật lạ.
– Ở Hương Thành, – anh nói, – mùa ni là mùa mưa. Mưa ba tháng không dứt. Đồ phơi không khô, sách mốc meo, ra đường đôi dép lúc mô cũng ướt. Mạ tôi than suốt.
– Nghe ghê vậy, – Tấn nói.
– Ghê lắm, – anh Khiêm đáp, và Đòng nghe ra trong giọng anh một cái gì đó không phải ghê.
Cái máy đo thứ nhất cắm ở bờ Hố Trời Thủng. Đó là một cái hố tròn rộng chừng ba chục mét, sâu hun hút, mép lởm chởm đá đen. Người làng bảo đó là chỗ trần của một ống dung nham khác sập xuống từ thuở nào, nhưng chưa ai xuống đấy bao giờ, vì làng không cần. Đòng khoan mũi máy xuống đất cách mép hố hai chục bước, nện cho chặt, bật công tắc. Trong mũ cô vang lên giọng Mõ, đi qua cái ăng-ten lớn ở Đồng Gương:
– Mõ xin báo: máy đo số bốn đã nối mạng. Tín hiệu tốt.
Cái thứ hai ở cây số một đường mỏ. Cái thứ ba ở hàng rào Giếng Băng. Ở đó có một cái tháp thép, trên đỉnh treo ròng rọc của thang lồng, bên cạnh là mấy cái máy Voi nằm phục như những con thú đang ngủ, vòi khoan nhiệt gập lại dưới bụng. Cô không thấy ai. Theo lịch thì chú Nghiệp và bố cô đang ở dưới tầng ba trăm. Cô nhìn cái miệng giếng một lúc rồi quay đi.
Đến trưa, cả ba ăn trong xe. Cô Ba Huệ gói cho mỗi người ba cái bánh ít bột gạo nhân đậu xanh, gói lá chuối trồng trong vườn ươm. Phải tháo mũ ra mới ăn được, mà tháo mũ thì phải ở trong buồng kín của xe. Anh Khiêm ăn chậm, bóc lá chuối cẩn thận, gấp lại thành hình vuông nhỏ bỏ vào túi.
– Lá chuối ni quý lắm hỉ.
– Hai công một lá, – Tấn đáp. – Ăn xong lá đem về cho mạ tui. Bả rửa, bả phơi, Tết bả gói bánh tét.
Lúc Tấn ra ngoài xem lại bánh xe, Đòng mở cái thư hình của mẹ.
Nó tới đêm qua, như mọi tuần. Thư đi từ Trái Đất lên con Cò, cái vệ tinh chuyển tiếp quay quanh sao Hoả, rồi từ con Cò xuống ăng-ten của làng. Mùa này hai hành tinh đang ở hai phía của Mặt Trời, xa nhau hơn hai lần khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trời, nên mỗi lá thư phải đi mười chín phút. Không ai gọi điện được cho ai. Người ta chỉ gửi rồi chờ.
Mẹ cô đứng dưới một mái hiên, sau lưng là một con đường nhoà nước. Bà mặc áo sơ mi màu cam đất, tóc đã bạc hai bên thái dương. Phía sau bà, trời màu xám, và từ cái xám ấy, những sợi gì đó rơi xuống không ngừng, dày, trắng, lách tách trên mái tôn, trên lá cây, trên mặt đường.
– Con ơi, Vĩnh Giang mấy bữa nay mưa trái mùa. – Mẹ cô cười, cái cười làm khoé mắt bà nhăn lại. – Mẹ đứng đây cho con nghe tiếng mưa nè. Con nghe hông? Mẹ để yên một chút cho con nghe.
Bà không nói gì nữa. Bà đứng im, quay cái máy về phía mưa. Mười giây. Hai mươi giây. Tiếng lộp độp, tiếng rào rào, tiếng nước chảy xối xuống từ máng xối. Rồi bà quay máy lại.
– Mẹ hứa với con rồi đó. Mẹ sẽ cho con thấy mưa. Mẹ chưa quên đâu. Thôi con làm việc đi. Mẹ thương con.
Thư hết. Cái khung hình đứng lại ở gương mặt bà.
Đòng tắt nó đi. Cô không bấm vào cái nút nhỏ có hình mũi tên quay ngược, cái nút để ghi thư trả lời. Mười hai năm nay cô chưa bấm vào cái nút ấy lần nào.
Cánh cửa buồng kín mở. Tấn bước vào, rũ bụi, nhìn mặt cô, rồi nhìn cái bảng tay trên đùi cô.
– Thư má mày hả?
– Ừ.
– Mày vẫn chưa…
– Đi thôi, – Đòng nói. – Còn hai cái.
Tấn không hỏi nữa. Mười chín năm làm bạn, nó biết chỗ nào cô không cho ai bước vào. Anh Khiêm ngồi ghế sau, cũng không hỏi. Nhưng khi cô quay đầu, cô bắt gặp anh đang nhìn ra cửa sổ, và cô biết anh đã nghe thấy hết tiếng mưa.
Cái máy thứ tư cắm trên gò đá phía tây nam lúc mặt trời đã ngả. Đến khi xe Trâu leo lên được sườn Đồi Mả thì mặt trời chỉ còn cách chân trời chừng một bàn tay.
Đồi Mả không cao. Nó chỉ là một cái gò rộng, lưng tròn, đá sẫm hơn chung quanh. Trên đỉnh gò, làng xếp bảy ngôi mộ thành một hàng ngang, nhìn về phía bắc, về phía làng. Không có đất mà đắp, nên mộ nào cũng là một nấm đá xếp, trên đầu đặt một tấm bia đá khắc tay. Người đầu tiên nằm đây là một ông thợ máy chết năm năm tư, khi làng mới hai tuổi. Người cuối cùng là cô Loan, vợ chú Nghiệp, mất năm sáu tám, lúc thằng Mít mới ba tuổi.
Đòng khoan cái máy thứ năm xuống chân đồi, cách hàng mộ năm chục bước, đủ xa để khỏi làm phiền ai. Cô nện đất, bật công tắc, rồi trèo lại vào buồng kín của xe, chờ Mõ báo.
Mõ chưa kịp báo thì mặt trời chạm chân trời.
Cô đã thấy cảnh này nhiều lần, nhưng chỉ qua lớp kính Vòm Đình, chưa bao giờ ở giữa bình nguyên mà nhìn nó. Bầu trời màu bơ sữa phía tây thẫm lại, chuyển dần sang màu gạch, rồi sang màu nâu tím. Nhưng quanh cái đĩa mặt trời nhỏ xíu đang lặn xuống, thì không phải màu đỏ như trong những tấm ảnh hoàng hôn Trái Đất mà ông nội cất trong máy. Quanh nó là một quầng xanh lam. Xanh như nước giếng trong lúc trưa. Xanh nhạt ở rìa, đậm dần vào giữa, như một con mắt đang mở ra giữa trời gạch. Bụi sao Hoả mịn đến mức nó giữ lại màu đỏ cho cả bầu trời, và chỉ để cho màu xanh đi thẳng theo ánh nắng tới mắt người. Ông nội từng giảng cho cô nghe như thế, bằng giọng của người dạy nông học. Rồi ông bảo thêm, bằng giọng khác: ở quê, chiều về trời đỏ, ở đây chiều về trời xanh, thế là mình ở ngược với quê, con ạ.
Không ai trong xe nói gì. Tấn tắt cả đèn bảng điều khiển. Anh Khiêm đứng dậy khỏi ghế, cúi người sát cửa kính, hai tay để trên đầu gối.
– Răng mà… – anh nói khẽ, rồi không nói hết.
Mặt trời chìm một nửa. Cái quầng xanh kéo dài ra theo đường chân trời, mỏng như một sợi chỉ. Trên đỉnh đồi, bảy tấm bia đá in bóng đen lên nền trời ấy.
Và ở giữa khoảnh khắc đó, xe Trâu rung lên.
Không phải gió. Không có gió. Cái rung đi lên từ dưới bánh xe, qua sàn, qua ghế, qua đế ủng của cả ba người. Thịch. Thịch. Thịch. Rồi nghỉ.
Nó mạnh hơn hẳn ở làng. Ở làng, nó chỉ làm gợn mặt cốc nước. Ở đây, cái ống nước gắn trên vách xe kêu lạch cạch, và một hòn đá nhỏ trên nóc nấm mộ cuối cùng, nấm mộ của cô Loan, lăn xuống, nảy hai lần, rồi nằm yên trên cát.
– Mõ, – Đòng gọi.
– Mõ xin báo: máy đo số tám trên Đồi Mả đã nối mạng. Chuỗi chấn động vừa rồi, máy số tám ghi được biên độ gấp sáu lần máy ở Cửa Đình. – Mõ dừng một nhịp, như để tính. – Gần hơn rất nhiều so với Mõ nghĩ.
Đòng nhìn qua cửa kính xuống chân đồi. Bóng tối đã lên tới đó. Từ chỗ cô đứng, nhìn về phía bắc là làng, ba cây số. Nhìn về phía đông bắc, cách chừng một cây rưỡi, là cái tháp thép của Giếng Băng, đỉnh tháp còn bắt chút nắng cuối cùng, đỏ như que hương.
Thịch. Thịch. Thịch. Lần nữa. Lần này là cái bảng tay trên đùi anh Khiêm trượt xuống sàn.
– Tấn, – cô nói. – Về. Về ngay.
Tấn bật đèn. Hai con mắt trâu sáng lên, quét ngang sườn đồi, quét qua hàng bia mộ, quét qua cái máy đo thứ năm vừa cắm. Cái máy ấy, Đòng thấy rõ trong luồng đèn, đang nghiêng đi một chút, như có ai ở dưới đất vừa đẩy nó từ bên dưới.
— Hết chương 3 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe