Chương 7: Lỗ tai lộc
Chú Sáu Lợi đi lên gác kho bằng cái cầu thang gỗ dựng đứng như người ta leo cột mỡ: tay vịn, chân dò, dừng ở mỗi bậc thở một hơi. Ông mặc áo sơ mi trắng đã ngả màu ngà, quần tây xám ống rộng, đeo cặp kính gọng đồi mồi trễ xuống tận đầu mũi. Tay ông xách một cái giỏ nhựa đan, trong giỏ có một xâu chìa khoá và một bình trà.
Thy đứng chờ ở chân cầu thang từ lúc hai giờ chiều thứ Tư. Chị Hảo nói thứ Tư nào chú Sáu cũng tới, lên gác ngồi một mình với cái tủ gỗ đen tới bốn giờ rồi về.
– Chú Sáu.
Ông dừng ở bậc thứ ba từ trên xuống, quay lại. Ông nhìn cô qua mép trên của cặp kính, lâu như người ta dò một dòng chữ viết tay khó đọc.
– Con nhỏ của Bảy. – Ông nói. Không phải câu hỏi.
– Dạ, con là Thy.
– Ờ. – Ông leo nốt ba bậc, mở khoá cái cửa gác, rồi đứng đó, không vô. – Con muốn hỏi gì thì hỏi ở đây. Trên này nóng.
Thy bước lên hai bậc, đứng thấp hơn ông một khúc.
– Dạ, con không hỏi chuyện sổ sách. Chuyện sổ sách con đã báo công ty, con không được đụng. Con hỏi chuyện riêng. Chuyện má con.
– Chuyện má con thì đi hỏi má con.
– Con hỏi rồi. Má nói má làm cho nhà này mười mấy năm, nghỉ thì bà gửi tiền. Má nói chú tốt với má hồi xưa.
Chú Sáu cười, một cái cười khô làm mấy nếp nhăn quanh mắt ông xô lại.
– Má con tốt với nhà này hơn. – Ông nói. – Bà dặn sao chú làm vậy. Bốn chục năm nay chú làm vậy. Con hỏi chú, chú cũng chỉ nói được bấy nhiêu.
– Bà dặn sao hả chú?
– Bà dặn gửi thì chú gửi.
– Còn bữa thứ Hai tuần trước, bà dặn "cái gì cũng như cũ". Như cũ là sao chú?
Ông nhìn cô một hồi. Cô tưởng ông sẽ giận. Ông không giận. Ông tháo cặp kính ra, lấy vạt áo chùi hai mắt kính, chùi rất kỹ, rồi đeo lại.
– Con giống má con lúc mười lăm tuổi. – Ông nói. – Cái tánh hỏi tới cùng. Hồi đó Bảy mới vô nhà này, cái gì cũng hỏi. Củi này mua ở đâu, sao bà không xài lò điện, sao ông nấu đường phải đứng coi chứ không để thợ coi. Bà la hoài. – Ông dừng lại. – Con về đi. Cái gì không phải của mình thì đừng có kiếm, kiếm ra rồi cầm không nổi.
Ông bước vô gác, đóng cửa. Thy đứng ngoài, nghe tiếng ổ khoá ống đồng của cái tủ gỗ đen mở ra, tiếng giấy lật.
Cả buổi chiều cô không làm được gì ra hồn. Cô ngồi nhìn bảng tính đối chiếu hàng tồn kho đêm qua, con số nào cũng khớp, khớp tới mức cô thấy kỳ, rồi tự nhủ không phải chuyện gì khớp cũng là kỳ. Cô Út sáng nay tới lò lúc mười giờ, mắt đỏ, đi ngang phòng làm việc không nhìn vô. Ở dưới xưởng, bà la một thằng thợ trẻ quên đội nón lớn tới mức cả lò im re. Mọi người nói cô Út vẫn là cô Út. Chỉ có Thiệu, lúc lên đưa thêm chứng từ, đứng dựa khung cửa nói nhỏ: hồi khuya cô Út về nhà gần ba giờ sáng, đi chân không, ống quần dính bùn.
Năm giờ chiều thứ Năm, Thiệu nhắn: "Bánh cống bên kênh. Tôi không mời, mỗi người tự trả. Sáu giờ rưỡi."
Cô đọc tin nhắn ba lần. Rồi cô trả lời: "Được."
Xe bánh cống của bà Chín đậu dưới gốc me già sát chân cầu, cách lò họ Dư một khúc kênh. Một cái xe đẩy gỗ, một chảo dầu, một cái bếp ga, mấy cái ghế nhựa thấp lè tè xếp dọc bờ kè. Bà Chín múc bột gạo pha nước cốt dừa vô cái khuôn sắt hình cái cốc có cán dài. Bà rải một lớp đậu xanh, một lớp thịt băm, đặt lên trên một con tôm còn nguyên vỏ, rồi rưới thêm một lớp bột, thả cả cái khuôn xuống chảo dầu. Dầu sôi xèo xèo, mùi bột chiên với mùi tôm thơm tới mức người đi ngang cũng phải ngó.
Thiệu ngồi trên cái ghế nhựa xanh, hai đầu gối co lên gần tới cằm. Anh đã gọi hai phần. Thy ngồi xuống, đặt ngay mười lăm nghìn lên cái mâm nhỏ trước mặt mình.
– Mười lăm một phần đó cô. – Bà Chín nói. – Cậu Hai trả rồi.
– Dạ, cô trả lại cho ảnh. Con trả phần con.
Bà Chín nhìn Thiệu, cười hở mấy cái răng.
– Con nhỏ này cứng đầu. Cậu Hai gặp đối thủ rồi.
Cái bánh cống vàng ruộm được gỡ ra khỏi khuôn, đặt lên dĩa, cắt làm tư bằng cây kéo. Ăn kèm một rổ rau: cải bẹ xanh, xà lách, tía tô, húng quế, diếp cá. Lấy lá cải cuốn một miếng bánh với mấy cọng rau thơm, chấm vô chén nước mắm chua ngọt có đồ chua cà rốt củ cải. Thy cắn một miếng, vỏ bánh giòn rụm vỡ ra, bên trong đậu xanh bùi, thịt ngọt, con tôm giòn cả vỏ.
– Ngon hông? – Bà Chín hỏi.
– Dạ ngon. – Thy nói thật. – Ngon hơn ở Cần Thơ.
– Ở Cần Thơ người ta làm theo kiểu Sài Gòn, bỏ tôm lột vỏ. Bánh cống phải để nguyên vỏ mới ra bánh cống.
Hai người ăn một lúc không nói gì. Trời chạng vạng, mặt kênh chuyển từ màu bạc sang màu chì. Bên kia kênh người ta bắt đầu mở đèn. Một chiếc xuồng ba lá chở hai người đàn bà đội nón lá bơi ngang, mái chèo khua nước lóc bóc.
– Anh Thiệu. – Thy nói. – Hồi nhỏ cô Út có hay hát không?
Thiệu ngừng cuốn rau.
– Sao cô hỏi vậy?
– Bữa kiểm kê, cô Út nghe tôi ngâm một bài thì hỏi ai dạy. Rồi cô Út ngâm lại bài đó. Rồi cô Út ra xe.
Anh im một chút. Anh nhìn ra kênh, về phía cái bến nhỏ sau lò nhà mình, chỗ hai người ngồi đêm thứ Sáu.
– Cô Út hồi trẻ hay ngâm nga. – Anh nói chậm. – Tôi nhớ mang máng thôi, hồi đó tôi còn nhỏ xíu. Cô Út hay ngồi ở cái bậc thang ngoài bến, ngâm mấy câu không lời, tay vẽ vẽ trên mặt nước. Rồi có một năm cô Út đi Sài Gòn học làm bánh Tây, đi mấy tháng. Về thì cô ốm nhom, tóc cắt ngắn. Từ đó tôi không nghe cô hát nữa. Không bao giờ. Đám cưới, đám giỗ, ai hát karaoke cô cũng bỏ đi chỗ khác.
– Năm đó anh mấy tuổi?
– Bốn. Hay năm. – Anh nhún vai. – Năm đó nhiều chuyện. Bà vú của tôi cũng đi năm đó.
– Bà vú?
– Hồi nhỏ tôi có bà vú. – Anh nói, và giọng anh khác đi, như người lục trong túi áo cũ ra một tấm vé xe hết hạn. – Tôi không nhớ mặt. Chỉ nhớ bà có mùi lá dứa. Bà kêu tôi là Cò, vì tôi ốm, giò dài, đứng một chân hoài như con cò. Bà hát ru tôi bài "ví dầu cầu ván đóng đinh", hát sai một chữ, chữ nào tôi không nhớ, mà tôi nhớ là sai. Rồi một bữa tôi ngủ dậy, bà đi rồi. Má tôi nói bà về quê lấy chồng. Tôi khóc ba ngày, nhịn ăn, nội phải dỗ. Nội cho tôi một cái lồng đèn ông sao bằng giấy kiếng đỏ, tôi mới nín.
Thy nhìn anh. Anh cười, cái cười tự giễu quen thuộc.
– Kể mấy chuyện này làm gì không biết. Cô hỏi chuyện cô Út mà.
– Không sao. – Thy nói. – Tôi thích nghe.
Bà Chín đặt thêm hai cái bánh cống mới chiên. Thiệu quay đầu qua trái để cảm ơn, và ánh đèn đường trên cột điện chiếu xiên xuống bên mặt anh. Thy thấy rõ, ở trước vành tai trái của anh, chỗ da mỏng giáp với má, một cái lỗ nhỏ xíu như ai lấy đầu kim chích vô.
Cô nhìn nó lâu tới mức anh quay lại.
– Gì vậy?
– Anh có lỗ tai lộc.
Anh đưa tay lên sờ chỗ đó, rồi bật cười.
– Ông bà nói vậy. Cô cũng biết cái này hả?
– Má tôi có. – Thy nói. – Y chỗ đó. Tai trái. Hồi nhỏ tôi hay lấy ngón út chọc vô, má la nhột.
– Vậy chắc tôi với má cô có lộc giống nhau.
– Nhà anh ai có nữa không?
– Không ai. – Thiệu nói, vô tư. – Ba tôi không có, má tôi không có, nội không có. Hồi học cấp ba tôi bị viêm chỗ đó một lần, sưng lên, đi bác sĩ. Bác sĩ nói cái này hay có trong nhà, đời này qua đời khác. Tôi nói nhà tôi không ai có. Bác sĩ cười, nói vậy chắc cậu là người đầu tiên trong dòng họ có lộc.
Thy cười theo. Cô gắp một miếng bánh cống, cuốn lá cải, chấm nước mắm, và trong đầu cô có một ý nghĩ lướt qua, nhẹ như con chuồn chuồn đậu trên mặt nước rồi bay đi. Cô không giữ nó lại. Cô đang nghĩ tới cô Út ngồi ngâm nga ngoài bến, tay vẽ trên mặt nước.
Điện thoại cô reo. Màn hình hiện tên "Nhựt".
– Alô.
– Thy hả? – Giọng Nhựt qua điện thoại hơi rè, có tiếng máy xúc ở đằng sau. – Anh mới ở Vị Thanh về. Cô Bảy nói em mấy bữa nay không gọi về.
– Em bận anh.
– Ừ. Mà cô Bảy coi bộ buồn. Sáng nay bán có nửa nồi là dẹp. Em gọi cho cô đi.
– Dạ, em gọi.
– Chừng nào em về? Thứ Bảy anh qua chở em đi ăn lẩu mắm, quán mới mở ở đường Ba Tháng Hai, ngon lắm.
– Để em coi.
– Ờ, em coi. Ăn uống đàng hoàng nghen.
Cô cúp máy. Thiệu đang cuốn rau. Anh cuốn một cuốn, rồi gỡ ra cuốn lại, như cuốn lần đầu bị hở.
– Anh hàng xóm? – Anh hỏi, mắt không nhìn lên.
– Dạ.
– Ảnh gọi cô hoài hả?
– Tuần một lần.
– Ờ.
Anh nói "ờ" nhanh quá. Nhanh tới mức bà Chín đứng chiên bánh cũng liếc qua. Thy cúi xuống chén nước mắm, mím môi để khỏi cười. Cô không hiểu sao mình lại vui vì một tiếng "ờ" của người ta. Cô cũng không hiểu sao cái vui đó làm cô sợ.
Hai người ăn hết bốn cái bánh cống. Thiệu trả phần mình, Thy trả phần mình, bà Chín thối tiền cho hai người, vừa thối vừa lắc đầu. Lúc đứng dậy, chân Thy tê vì ngồi ghế thấp, cô lảo đảo. Thiệu đưa tay ra đỡ khuỷu tay cô. Bàn tay anh ấm và khô, chạm vô rồi rút ra liền.
– Tôi đưa cô về nhà nghỉ. – Anh nói.
– Có năm trăm mét.
– Năm trăm mét có hai thằng nhậu.
Hai người đi bộ dọc bờ kênh. Gió từ mặt nước thổi lên, có mùi khói nhang của một nhà nào đó cúng tối. Không ai nói gì. Tới trước cửa nhà nghỉ, Thiệu đứng lại dưới cây đèn, tay đút túi quần.
– Anh Toàn của cô quyết sao chưa? – Anh hỏi.
– Chưa.
– Nếu cô phải rời hồ sơ… – Anh nói, rồi dừng. – Thôi. Tới đó rồi tính.
– Ừ. Tới đó rồi tính.
Cô đi lên phòng. Lúc mở cửa, điện thoại rung. Một tin nhắn của thằng Bửu, gửi từ lúc tám giờ mà giờ máy mới nhận.
"Chị ơi, chiều nay em ra gác kho trả bìa còng, em nghe cô Út đứng dưới chân cầu thang gọi điện cho chú Sáu, hai người cãi nhau. Cô Út xin chú Sáu địa chỉ nhà ai đó ở Cần Thơ. Chú Sáu không cho. Cô Út la lớn lắm chị. Cô Út nói: Sáu không cho thì tui tự kiếm."
— Hết chương 7 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe